ĐẶT VẤN ĐỀ Động vật hoang dã là một thành tố tất yếu của hệ sinh thái, chúng có vai trò to lớn trong cân bằng sinh thái, là những mắt xích quan trọng trong chu trình dinh dƣỡng và tuần hoàn vật chất trên trái đất. Đối với đời sống con ngƣời, động vật hoang dã là nguồn sống, chúng đáp ứng nhiều nhu cầu của con ngƣời nhƣ: cung cấp lƣơng thực, thực phẩm, giá trị giải trí, khoa học, văn hóa, sức khỏe và nhiều giá trị tiềm tàng khác. Trƣớc đây, động vật hoang dã là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho cộng đồng ngƣời dân miền núi nhƣng hiện nay số lƣợng động vật đã bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài động vật đang đƣớng bên bờ của sự tuyệt chủng. Trong số các loài động vật đƣợc biết đến ở Việt Nam có 94 loài thú, 76 loài chim 40 loài bò sát và 14 loài ếch nhái có tên trong Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007).
Nhiều loài động vật nhỏ trƣớc đây ít đƣợc quan tâm nhƣng hiện nay đang là đối tƣợng săn bắt chủ yếu của ngƣời dân, loài Chuột đất lớn (Bandicota indica) là một trong số đó. Ở Việt Nam, thịt chuột là món ăn khá quen thuộc ở nhiều vùng miền trong cả nƣớc và đƣợc ƣa chuộng ở nhiều tỉnh thành: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hƣng Yên, Hà Tây, Hoà Bình.Thành phần của thịt chuột chứa nhiều protein và acid amin nên có giá trị dinh dƣỡng cao. Trong số 37 loài chuột thuộc họ Chuột - Muridae (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009), Chuột đất lớn là loài có kích thƣớc cơ thể lớn có thể nặng đến 850g, chất lƣợng thịt thơm ngon, sinh sản nhanh, sinh cảnh sống đa dạng nên là một trong những đối tƣợng có thể nhân nuôi để phát triển kinh tế. Mặc dù, số lƣợng Chuột đất lớn vẫn còn nhiều ngoài tự nhiên, loài chƣa có tên trong danh mục bảo vệ của chính phủ và nguy cơ tuyệt chủng nhƣng với tình trạng khai thác thiếu kiểm soát có thể dẫn đến sự suy giảm quần thể hoặc loài phải đối diện với nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian không xa.
Do vậy, việc nhân nuôi phát triển loài không những có ý nghĩa cung cấp thực phẩm cho xã hội, phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn mà còn có ý nghĩa bảo tồn loài. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu nuôi thử nghiệm loài Chuột đất lớn (Bandicota indica Bechstein 1800) tại thị trấn Xuân Mai, huyện Chƣơng Mỹ, thành phố Hà Nội’. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm bƣớc đầu xây dựng tài liệu kỹ thuật nhân nuôi loài. 1 PHẦN I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Hoạt động chăn nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam Theo số liệu của Cục Kiểm lâm, đến nay đã có khoảng 10.000 cơ sở nuôi động vật hoang (ĐVHD) dã đăng ký với cơ quan chức năng ở cả 63 tỉnh, thành phố với khoảng 3 triệu cá thể thuộc 70 loài đang đƣợc nuôi, trong đó có 4 loài chính là trăn, cá sấu, khỉ đuôi dài và rắn các loại. Đồng bằng Sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là hai khu vực nuôi ĐVHD lớn nhất cả nƣớc, chiếm khoảng 70%; tiếp theo là đồng bằng Sông Hồng chiếm 20%. Hoạt động gây nuôi sinh sản ĐVHD là một trong những biện pháp nhằm bảo tồn nguồn gen, đồng thời giảm áp lực lên việc khai thác, săn bắn ĐVHD ngoài tự nhiên, mang lại hiệu quả kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời dân.TSKH Đặng Huy Huỳnh - Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam: so với các nƣớc, việc gây nuôi ĐVHD ở nƣớc ta còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chƣa phải là ngành sản xuất hàng hóa để có thể trở thành một ngành kinh tế nông nghiệp mũi nhọn, kết hợp gây nuôi, kinh doanh, bảo tồn với du lịch nhƣ các nƣớc châu Âu (Nga, Đức, Hungari, Bungari, BaLan, Pháp), các nƣớc Đông Nam Á (Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Myanmar), các nƣớc Đông Phi. Chƣa thực hiện đúng hƣớng dẫn, quản lý của các cơ quan quản lý nhà nƣớc.
Vì vậy, các cơ quan quản lý nên hƣớng dẫn quy trình cụ thể, quy định các danh mục đƣợc phép gây nuôi, kinh doanh và góp phần vào mục tiêu bảo tồn. Hiện nay, chăn nuôi ĐVHD ở Việt Nam theo phƣơng pháp nuôi đơn giản, chủ yếu là nuôi nhốt, chƣa phù hợp với điều kiện sinh thái nhiệt đới, chƣa chủ động nguồn thức ăn cho động vật nuôi, chƣa có biện pháp phòng và chữa bệnh, chƣa kết hợp với kỹ thuật công nghệ sinh học trong nhân nuôi, sinh sản cũng nhƣ vấn đề bảo vệ môi trƣờng và an toàn trong nhân nuôi, ảnh hƣởng đến quá trình phát triển sinh lý, sinh thái của vật nuôi. Nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam còn mang tính phong trào. Trƣớc năm 2010, hoạt động chăn nuôi Nhím 2 phát triển mạnh ở nhiều địa phƣơng, thu nhập những ngƣời khai phá bao giờ cũng rất cao, lên đến hàng tỷ đồng/năm, nhƣng chủ yếu nhờ bán con giống.
Sự thiếu hiểu biết về kiến thức nền nhƣ sinh học, sinh thái học, kỹ thuật nuôi, biện pháp phòng chữa bệnh, kể cả những quy định của pháp luật khiến ngƣời nuôi thƣờng gặp rủi ro. Việc tổ chức gây nuôi một số loài ĐVHD có giá trị bảo tồn và các loài có giá trị kinh tế đang bị giảm sút về số lƣợng ở Việt Nam là việc làm cần thiết, dựa trên nguyên tắc nhân nuôi ĐVHD gắn với việc bảo tồn nguồn gen, không làm suy giảm số lƣợng các loài ĐVHD có giá trị kinh tế, các loài đang bị đe dọa, mà còn tạo điều kiện cho số lƣợng của các loài ĐVHD phát triển qua nhiều thế hệ để phục hồi lại số lƣợng một số loài hiện nay có nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề này cần đƣợc đặt ra dƣới nhiều hình thức nhƣ nhân nuôi ở các trạm cứu hộ động vật, các trang trại, hộ gia đình, khu du lịch sinh thái… Nhờ đó, nguồn tài nguyên ĐVHD mới có khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội và phục vụ việc bảo tồn quỹ gen hoang dã. Sơ lƣợc về thành phần các loài Chuột ở Việt Nam 1.
Thành phần các loài chuột ở Việt Nam Họ chuột (Muridae) là họ thú có số lƣợng lớn nhất với khoảng 730 loài thuộc 150 giống, 5 phân họ. Ở Việt Nam, cho đến nay đã ghi nhận đƣợc 37 loài chuột thuộc 15 giống (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Tất cả các loài chuột có ở Việt Nam có đặc điểm chung: có 3 răng hàm và sự hệ thống các mẫu răng hàm giao động từ các mẫu phân bố độc lập đến hình thành các gờ song song nhau. Kích thƣớc và hình rạng của răng, đặc biệt là các kiểu mẫu, gờ nhai trên mặt răng hàm thƣờng là các đặc điểm phân loại quan trọng của thú họ chuột, đặc biệt ở cấp giống.
Một số giống có rất nhiều các mẫu (núm) độc lập nhau, ở một số giống khác các mẫu lại tập hợp thành các đƣờng gờ song song (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Đặc điểm nổi bật nhất của họ chuột (Muridae) phân biệt với họ chuột cộc (Criticidae): răng hàm không có các gờ (vách) men dọc nối liền với các dãy mấu răng với nhau. Sự hiện diện và mật độ tƣơng đối của các lông gai trong bộ lông cũng là đặc điểm nhận dạng quan 3 trọng. Chúng ta rất khó nhìn thấy các gai, nhƣng dễ dàng cảm nhận đƣợc chúng khi vê nhẹ ngón tay theo chiều ngƣợc lại hƣớng mọc của lông - chúng có ngọn cứng nhƣng không sắc nhọn.
Đặc điểm của đuôi cũng rất quan trọng bao gồm tỉ lệ chiều dài và các kiểu màu sắc của đuôi, chẳng hạn: đuôi đen hoàn toàn hay đuôi 2 màu, trên xám, dƣới trắng. Tất cả các loại chuột đều có đệm bàn chân. Số lƣợng, hình dạng và kích thƣớc đệm bàn chân mang tính đặc trƣng loài. Số lƣợng và vị trí xắp xếp các tuyến vú cũng có thể mang tình phân loại (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009).
Sơ lược về loài Chuột đất lớn Theo Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009), đặc điểm về loài Chuột đất lớn (Bandicota indica Bechstein 1800) đƣợc mô tả nhƣ sau: Chuột đất lớn hay còn gọi là Chuột lợn. Chuột trƣởng thành có kích cỡ chiều dài thân 250 – 302mm, chiều dài đuôi 170 – 250mm, chiều dài chân sau 40 – 56mm, chiều dài chân trƣớc 27 – 35mm, trong lƣợng 217 – 844g. Mõm của Chuột đất lớn ngắn và tù, dài tai lớn hơn 1/10 dài thân đầu, đuôi, chuột thì dài bằng hoặc ngắn hơn thân. Chuột đất lớn có bọ lông thô cứng, có nhiều lông dài ở lƣng (50 – 90mm).
Mặt lƣng đen nhạt hoặc nâu đen, đôi khi xen lẫn với các lông trắng nhạt, lông có phần gốc xám nhạt và chóp đen. Bụng của chúng có màu xám nhạt hoặc nâu nhạt, các chân trƣớc và sau toàn đen nhạt, chân trƣớc 4 ngón, chân sau 5 ngón với các ngón rất ngắn, đều có vuốt sắc bàn chân có 6 đệm. Đuôi đồng màu nâu sẫm, phủ các vảy ra và thô cứng. Chuột có 6 đôi vú răng cửa hàm trên to, dày màu nâu hoặc vàng chiều rộng 2 răng cửa trên lớn hơn 4mm.
Loài này thích ở gần nƣớc nhất là ở các ao, hồ nhiều cây lau, sậy. Chúng còn đƣợc thấy trong bờ ruộng, gò đất có cây cối, ở những nƣơng trồng sắn có nhiều cây bụi rậm rạp và đào hang ngay trong nƣơng. Chuột đất lớn thích sống ở nơi đất cát vùng trồng mía, lạc. Hang Chuột đất lớn thƣờng đào rất phức tạp chúng sống thành tập đoàn 2 – 15 hàng mỗi hàng cách nhau 20 – 70 cm.
Khi gặp nguy hiểm Chuột đất lớn thƣờng xù lông, há mồm, nhe răng và nhẩy bổ vào. Khi di chuyển Chuột thƣờng kêu khịt khịt nhƣ lợn nên có tên gọi khác là Chuột lợn. Khi rời hang, chuột thƣờng nấp một thời gian xem động tĩnh, nếu phát hiện 4 kẻ địch lập tức quay lại hang và dùng chân sau lấp đất. Chuột đất lớn bơi lặn giỏi, lặn lâu đến vài phút vì thế nó dẽ dàng vƣợt qua các con sông nhỏ.
Chuột đất lớn hoạt động kiếm ăn vào ban đêm nhất là nửa đêm, ban ngày thì ngủ. Chuột đất lớn ăn chủ yếu thực vật là chính nhƣ rễ cây, rau, củ, quả đôi khi chúng ăn cả thịt gà, thỏ và ăn thịt loài chuột khác nữa. Vì loài này ăn rễ và củ là phần nhiều chất dinh dƣỡng nên rất béo, di chuyển chậm chạp và khệnh khạng. Chuột đất lớn sinh sản quanh năm nhƣng mạnh nhất là cuối xuân đến đầu thu và giảm vào mùa động.
Mỗi năm từ 1 – 3 lứa, mỗi lứa từ 3 – 12 con.