CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TÍNH HỮU HIỆU KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đã có một số công trình của các tác giả khác nhau nghiên cứu về hệ thống KSNB. Ở chương này, tác giả thực hiện việc hệ thống hóa, phân tích và đánh giá các nghiên cứu đã được thực hiện có liên quan đến hệ thống KSNB, tính hữu hiệu của hệ thống KSNB và các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Qua đó xác định khe hổng nghiên cứu và đưa ra các định hướng nghiên cứu của luận văn.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài Quá trình tra cứu và tham khảo nhiều tài liệu khác nhau, tác giả nhận thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan về hệ thống KSNB, tác động của hệ thống KSNB tới các đối tượng, cũng như các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của doanh nghiệp tại nhiều quốc gia trên thế giới đã được các tác giả khác nhau thực hiện trong thời gian vừa qua.
Tác giả xin nêu ra một số các công trình tiêu biểu như sau: 1.1 Các nghiên cứu về hệ thống KSNB • Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng quản trị: Trên cơ sở báo cáo COSO năm 1992, tổ chức COSO đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM). Trong nghiên cứu này, ERM được xây dựng gồm 8 bộ phận bao gồm: môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Vào năm 2004, COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp. Ngoài ra, các nghiên cứu của các tác giả như: Spira and Page (2002); Yuan Li, Yi Liu, Younggbin Zhao (2006) đều cho rằng KSNB có mối quan hệ với công tác quản trị doanh nghiệp, điều này thể hiện cụ thể ở việc: KSNB có vai trò định hướng thị trường của doanh nghiệp và KSNB có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp.
Tác giả Mawanda (2008) khi thực hiện nghiên cứu để kiểm tra những ảnh z 8 hưởng của KSNB đối với hoạt động tài chính tại các trường đại học ở Uganda đã chứng minh rằng có mối quan hệ giữa hệ thống KSNB và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Mô hình mối quan hệ được tác giả thể hiện ở hình 1.1 * Môi trường kiểm soát Hoạt động tài chính * Kiểm toán nội bộ * Tính thanh khoản * Hoạt động kiểm soát * Trách nhiệm * Báo cáo Các biến trung gian * Chính sách của Hội đồng quản trị * Hội đồng giáo dục quốc gia * Bộ giáo dục Hình 1.1 Mô hình mối liên hệ giữa KSNB với hoạt động tài chính Nguồn: Mô hình của Mawanda (2008) Tác giả William and Kwasi (2013) khi thực hiện nghiên cứu về tính hiệu quả của hệ thống KSNB ở các ngân hàng khu vực phía đông của Ghana đã đưa ra kết luận rằng: hệ thống KSNB hỗ trợ nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị mình. Hệ thống KSNB Đạt được các mục tiêu của công ty * Kiểm soát quản lý * Tiến hành kinh doanh một cách có trật tự và * Kiểm soát kế toán nội hiệu quả bộ * Đảm bảo an toàn tài sản * Kiểm toán nội bộ * Phòng ngừa và phát hiện các gian lận và sai sót * Đảm bảo chính xác và đầy đủ hồ sơ kế toán và chuẩn bị kịp thời các thông tin tài chính đáng tin cậy Hình 1.2 Mô hình mối liên hệ giữa KSNB với việc đạt được mục tiêu Nguồn: Mô hình của William and Kwasi (2013) Các tác giả Mongkolsamai and Ussahawanitchakit (2012) khi nghiên cứu tác z 9 động của chiến lược KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết Thái Lan nhấn mạnh rằng: có 4 nhân tố tác động đến chiến lược KSNB, bao gồm: (1) Tầm nhìn điều hành minh bạch, (2) Kiến thức của nhân viên, (3) Sự đa dạng của các giao dịch kinh doanh, (4) Nhu cầu của các bên liên quan. Tầm nhìn điều hành minh bạch Chiến lược KSNB - Môi trường kiểm Hiệu quả hoạt Kiến thức của động của tổ nhân viên soát - Đánh giá rủi ro chức - Hoạt động kiểm Sự đa dạng của soát các giao dịch kinh doanh - Hệ thống thông tin truyền thông Nhu cầu của - Giám sát các bên liên quan Biến kiểm soát - Số tuổi của công ty Tư duy làm - Quy mô của công việc nhóm ty Hình 1.3 Các nhân tố tác động đến chiến lược KSNB Nguồn: Mongkolsamai and Ussahawanitchakit (2012) • Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ Trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ và chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng chuyển sang sử dụng Báo cáo COSO làm nền tảng đánh giá hệ thống KSNB, bao gồm: Chuẩn mực SAS 78 (1995): Xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Các định nghĩa, nhân tố của KSNB trong báo cáo COSO (1992) đã được trình bày vào chuẩn mực này. z 10 Chuẩn mực SAS 94 (2001): Ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực ISA 315 “Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu” đã yêu cầu kiểm toán viên cần có hiểu biết đầy đủ về KSNB và định nghĩa hệ thống KSNB là một quá trình do bộ máy quản lý, Ban giám đốc và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Báo cáo tài chính đáng tin cậy, pháp luật và các quy định được tuân thủ, hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Hệ thống KSNB được thiết kế nhằm giảm thiểu những rủi ro kinh doanh có khả năng đe dọa đến việc đạt được những mục tiêu trên.
Chuẩn mực ISA 265 “Thông báo về những khiếm khuyết của KSNB”: yêu cầu kiểm toán viên độc lập thông báo về các khiếm khuyết của KSNB do kiểm toán viên phát hiện được cho những người có trách nhiệm trong đơn vị. Trong lĩnh vực kiểm toán nội bộ, một số công trình nghiên cứu cũng đề cập đến mối quan hệ giữa KSNB và kiểm toán nội bộ. Các tác giả Karagiogos, Drogalas, Dimou (2014) khi nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong ngành ngân hàng Hy Lạp đã cho rằng ở các ngân hàng đã tồn tại và thành công thì tất cả các thành phần của KSNB đóng góp vai trò rất quan trọng trong sự hữu hiệu của kiểm toán nội bộ. KSNB - Môi trường kiểm soát Tính hữu hiệu - Đánh giá rủi ro của kiểm toán - Hoạt động kiểm soát nội bộ - Hệ thống thông tin truyền thông - Giám sát Hình 1.4 Mối quan hệ giữa KSNB với tính hữu hiệu của KTNB Nguồn: Mô hình của Karagiogos, Drogalas, Dimou (2014) z 11 • Nghiên cứu hệ thống KSNB theo hướng tác động của hệ thống KSNB đến giá trị doanh nghiệp Các tác giả Ge and McVay (2005) khi thực hiện các nghiên cứu về hệ thống KSNB theo yêu cầu của đạo luật SOX đã chỉ ra rằng những điểm yếu trong hệ thống KSNB có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Các tác giả Shenkir and Walker (2006) trong nghiên cứu của mình cho rằng có thể thực hiện hiệu quả đạo luật SOX, hệ thống KSNB của doanh nghiệp phải bao gồm đầy đủ các yếu tố, dựa trên phân tích toàn diện các rủi của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu này còn cho thấy rằng các công ty sẽ thu được ít lợi nhuận hơn các công ty khác khi công ty đó có nhiều nhược điểm về KSNB. Tác giả Doyle (2005) trong nghiên cứu của mình cũng đã chứng minh rằng các doanh nghiệp sẽ có doanh thu thấp hơn nếu có yếu kém về KSNB. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho rằng khi hệ thống KSNB yếu kém thì nó sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư vào doanh nghiệp khi BCTC của doanh nghiệp được công bố thông qua phản ứng của thị trường.
Tác giả Hammersley (2007) khi thực hiện khảo sát thực nghiệm đối với 102 công ty nhận thấy rằng có sự sụt giảm niềm tin của nhà đầu tư trên thị trường đối với các công ty này và là nguyên nhân của sự sụt giảm thị giá cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường. • Nghiên cứu mối liên hệ giữa hệ thống KSNB và chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết KSNB là công cụ hữu ích trong việc tạo ra các BCTC có chất lượng và các công ty sử dụng KSNB tự nguyện cho mục đích công bố thông tin tài chính. Nghiên cứu của tác giả Altamuro (2010) khi điều tra ảnh hưởng của các thủ tục KSNB đối với việc lập BCTC của FDICIA trong thập niên 1990 cho rằng chất lượng BCTC trong lĩnh vực ngân hàng được gia tăng khi các đơn vị được tăng cường công tác KSNB để giám sát việc lập BCTC. Bên cạnh đó, tác giả Amudo (2009) cho rằng những gian lận trong việc lập BCTC và những vụ bê bối kế toán ở tất cả các quốc gia thường liên quan đến vấn đề tổ chức KSNB.
z 12 Năm 1987, trong kết quả nghiên cứu của ủy ban tài trợ tại Mỹ đã chỉ ra rằng nguyên nhân hàng đầu dẫn đến những gian lận về thông tin tài chính của các công ty đó là do việc thiếu hoặc yếu kém trong vấn đề tổ chức KSNB. Trong tổ chức KSNB, Ban giám đốc là một thành phần quan trọng của bộ máy KSNB và công tác KSNB trong doanh nghiệp. Tác giả Klai (2011) cho rằng có mối quan hệ giữa đặc điểm của ban giám đốc của công ty niêm yết và chất lượng thông tin kế toán tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Khi ban giám đốc công ty thực hiện hoạt động kiểm soát tốt sẽ cung cấp thông tin trung thực, chính xác cho những người quan tâm.
Theo tác giả DeFond (1991) cho rằng có mối liên hệ giữa chất lượng thông tin BCTC và bộ phận KTNB của các công ty niêm yết, một trong những yếu tố quan trọng của hệ thống KSNB. Mặt khác, tác giả còn cho rằng những công ty có BCTC phải công bố thường lại hiếm có bộ phận KTNB.