CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 5.
Cơ sở về số liệu và tài liệu nghiên cứu Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, học viên có tham gia thực hiện đề tài cấp Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam "Nghiên cứu xác định cơ chế bồi lấp và đề xuất giải pháp ổn định cửa sông Lạch Bạng, tỉnh Thanh Hóa phục vụ phát triển kinh tế biển " do Ths. Nguyễn Thái Sơn, Phòng Địa lý biển và hải đảo thuộc Viện Địa Lý làm Chủ nhiệm. Học viên được Lãnh đạo Viện Địa lý cùng Chủ nhiệm đề tài cho phép tham gia công tác khảo sát thực địa, tham gia tính toán các quá trình diễn biến vùng cửa sông Lạch Bạng và được phép sử dụng số liệu, kết quả tính toán để hoàn thành luận văn này. Cũng trong quá trình học và làm luận văn, học viên có tham gia viết một cuốn sách chuyên khảo “Xây dựng CSDL WebGIS quản lý môi trường biển đảo vùng quần đảo Trường Sa” do TS.
Đỗ Huy Cường làm chủ biên và một bài báo khoa học “Nghiên cứu diễn biến vùng ven biển cửa sông Lạch Bạng, tỉnh Thanh Hóa bằng tư liệu ảnh viễn thám đa thời gian” đã được chấp nhận đăng trên Tạp chí biển Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cửa sông Cửa sông là đoạn sông nối tiếp giữa một dòng sông với biển, với một hồ chứa nước hoặc một dòng sông khác.
Cửa sông là nơi nước đổ ra biển hay là đoạn cuối cùng của một con sông - một đối tượng địa lý đặc biệt, nơi chuyển tiếp giữa sông và biển nằm ở phần giữa của VCS. Cửa sông là nơi tranh chấp giữa nước mặn của biển và nước ngọt của sông trong lục địa, đó là sự thay đổi từ chế độ thủy văn sông trong sự tiếp nhận chế độ hải văn biển, xảy ra trong khoảng không gian tương đối không lớn - một vị trí thuận lợi cho nước sông đổ ra biển đưa đến sự thay đổi cơ bản về chế độ thủy động lực, hóa lý và sinh học trong môi trường nước, đồng thời xuất hiện hiện tượng xói mòn đáy và dòng bồi tích dẫn đến việc thành tạo của bar cửa sông. Do vậy giới hạn cửa sông thường được xác định bởi các dấu hiệu đặc điểm như: giới hạn phía trong cửa sông: ở vị trí đáy trục lòng dẫn sông đạt độ sâu lớn, nơi bề mặt mực nước sông đạt tới độ dốc nhỏ nhất, ranh giới cuối của vùng không nhiễm mặn. Giới hạn phía ngoài cửa sông: ở ranh giới ngoài của các bar, đảo cửa sông, nơi dòng chảy, dòng bồi tích sông thường tắt dần.
Vùng cửa sông Vùng cửa sông là phần hạ lưu sông nằm tiếp giáp tới đường bờ duyên hải và đổ ra bờ biển, chúng chiếm một phần rộng lớn của đồng bằng ven biển, hạ lưu sông và phần mặt nước ven bờ biển. Ở đây đã xuất hiện các quá trình địa lý đặc biệt, đó là: - Chế độ thủy văn cửa sông là chế độ thủy văn biển. Chúng phụ thuộc vào chế độ thủy văn của toàn lưu vực sông (dòng chảy, dòng bùn cát, quá trình dòng dẫn…) và của chế độ thủy văn quá trình biển (dòng chảy, đới ven bờ, dòng triều, dao động mực nước…). - Ảnh hưởng của biển truyền sâu vào trong sông được biểu hiện qua sự dao động mực nước (thủy triều và nước dâng) gây dồn ứ nước sông kèm theo quá trình truyền mặn.
- Ảnh hưởng cửa sông được thể hiện ở vùng ven bờ, nơi gặp gỡ giữa nước sông và nước biển, làm giảm độ mặn, tạo điều kiện lắng đọng trầm tích. Động lực phát triển lòng dẫn cửa sông được đặc trưng bởi tính chất xói mòn cục bộ ở đáy lòng dẫn sông đồng thời xuất hiện dòng bồi tích được đem ra biển, dưới sự tác động của dòng sóng, dòng triều,… Dẫn đến thành tạo dải cát ngầm, bar ngầm được phân bố ở cửa sông hoặc dọc ven bờ tạo nên các cồn cát, bãi triều rộng lớn, tiền thân của đồng 5 bằng châu thổ delta cửa sông. Xuất hiện sự thay đổi dần dần thành phần hóa học của nước ngọt trong sông, chuyển dần thẳng đến nước mặn của biển được gắn liền tới sự thay đổi của thực vật nước mặn. Hình thành các hệ sinh thái cửa sông, giàu nguồn lợi sinh vật và chịu sự tác động mạnh của con người.
Như vậy, ranh giới trên hay ngưỡng trên của VCS là nơi không bị ảnh hưởng của các yếu tố biển (ảnh hưởng của thủy triều) và giới hạn dưới của VCS là khu vực có độ mặn đạt tới 31‰.Về mặt cảnh quan, VCS có nét đặc trưng riêng biệt khác với các đối tượng địa lý khác: Được cấu tạo bởi một phần hạ lưu con sông và một phần thềm biển nông ven bờ. Giữa chúng là vùng “ngưỡng” phân định ranh giới tương đối, thường được đặc trưng bởi đỉnh cồn cát chắn cửa sông (bar). Các thành tạo địa chất bao gồm vật liệu có nguồn gốc sông ngòi, nguồn gốc biển và nguồn gốc sông - biển hỗn hợp bị xáo trộn trong quá trình tích tụ - mài mòn để tạo nên châu thổ (delta). Đặc điểm thổ nhưỡng cũng như quần thể động - thực vật có nét riêng biệt mang tính pha trộn so với các vùng lục địa và vùng biển khơi.
Về chế độ thủy văn, VCS có điểm đặc trưng cho quá trình chuyển tiếp giữa hai chế độ thủy văn sông ngòi và thủy văn biển: Trong quá trình tương tác giữa hai khối nước mặn và ngọt có tính chất lý - hóa khác nhau, tạo thành khối nước pha trộn có tỷ trọng biến động rất phức tạp và luôn tạo điều kiện cho các hoàn lưu phát triển. Ở cửa sông, trường tốc độ dòng chảy thay đổi đột ngột tạo điều kiện cho các hạt nặng lắng đọng; sự thay đổi môi trường thủy hóa đưa đến kết tủa của các ion muối khoáng thành phần vật liệu bổ sung vào trầm tích cửa sông; hình thành bộ phận châu thổ mới với quá trình tích tụ thường vượt trội bào mòn. Vùng cửa sông có đới bờ phát triển đa dạng, thường diễn ra hiện tượng bồi tụ lấp đầy lòng dẫn cũ, hình thành các lòng dẫn mới và đưa cửa sông phát triển kéo dài về phía biển. Các quá trình này luôn biến động theo không gian và thời gian, đôi khi là những biến động mang tính đột biến do ảnh hưởng của bão và lũ lớn.
Phân loại cửa sông Việt Nam Việt Nam với trên 3260 km bờ biển, trung bình cứ 25 km lại có một cửa sông, tức là có hơn 130 cửa sông lớn nhỏ. Hầu hết các VCS ở dải ven biển Việt Nam chịu ảnh hưởng của thủy triều, nơi thường xuyên xảy ra tranh chấp mãnh mẽ giữa các nhóm yếu tố nội lực và ngoại lực. Do vậy, việc phân loại cửa sông nước ta có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp nhằm phục vụ các chuyên ngành, đối tượng liên quan tới việc khai thác, sử dụng hợp lý lãnh thổ có hiệu quả ở dải ven biển nước ta. Cách phân loại cửa sông rất khác nhau, chúng hoàn toàn phụ thuộc 6 vào mục đích nghiên cứu và các chỉ tiêu sử dụng trong phân loại.
Có thể nêu tóm tắt một số cách phân loại cửa sông trên thế giới theo các chỉ tiêu: - Dựa trên chỉ tiêu phân vùng khí hậu, các cửa sông được phân chia ra 3 loại: Cửa sông vùng cực đới, cửa sông vùng ôn đới, cửa sông vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. - Dựa trên hình dạng cửa sông và đường bờ biển chia ra các loại: Cửa sông dạng phẳng - dạng phễu, cửa sông dạng kín - dạng hở và cửa sông dạng lõm- dạng lồi. - Dựa vào đặc điểm địa mạo, hình thái các cửa sông được phân thành 2 loại: Cửa sông delta, lấn biển và loại cửa sông hình phễu Estuary. - Dựa trên các giai đoạn phát triển cửa sông được phân chia ra: Cửa sông trẻ, cửa sông đang phát triển và cửa sông đã trưởng thành.
- Dựa vào chế độ bùn cát chia ra các loại: Cửa sông có nhiều bùn cát > 0,2 kg/m3 và cửa sông có ít hoặc rất ít bùn cát < 0,16 kg/m3, cửa sông có bùn cát 0,16 ≤ ≤ 0,2 kg/m3 là cửa sông quá độ. - Dựa theo đặc trưng hình thái các val, bar (bãi bồi ngầm) cửa sông, có thể chia ra 4 loại: Cửa sông có bar phát triển dạng lưỡi liềm, cửa sông có bar phát triển dạng doi kéo dài, cửa sông có bar phát triển dạng đảo chắn và cửa sông có bar phát triển dạng hướng tâm phân chia lòng dẫn chính. - Dựa trên dấu hiệu hoạt động kiến tạo khu vực, các cửa sông được chia ra hai loại: VCS có hoạt động kiến tạo mạnh và VCS có hoạt động kiến tạo yếu. - Dựa trên đặc điểm tác động của chế độ thủy - hải văn, chia ra 2 loại: Cửa sông ven biển hở (hay đại dương) và cửa sông ven biển kín (hay biển nội địa).
- Dựa vào đặc tính thủy triều, chia ra 2 loại: VCS có triều và VCS vô triều. - Dựa theo mức độ tương tác của các yếu tố động lực sông - biển, có thể chia ra: cửa sông chịu tác động của các yếu tố biển là chính và cửa sông chịu tác động của các yếu tố sông là chính. - Nhìn chung, tất cả các cách phân loại kể trên ít hay nhiều đều xét tới các yếu tố động lực VCSVB một cách trực tiếp hay gián tiếp. - Thực chất 2 nguyên tắc phân loại cửa sông ở trên chủ yếu dựa vào hệ quả và mức độ tác động của các yếu tố động lực, song cũng chỉ ra được 10 dạng cửa sông thuộc 3 loại cửa sông chính ở Việt Nam: cửa sông lõm (Estuary), cửa sông phẳng (Liman) và cửa sông lồi (Delta).
+/ Cửa sông lõm (kiểu Estuary) gồm có hai dạng chính: - Dạng có bãi bồi phát triển thành doi, bar hay val cát thẳng góc với đường bờ, dòng triều đóng vai trò chính, bờ biển thuộc kiểu mài mòn - hoà tan với nhiều 7 vũng, vịnh ven bờ. Dạng này có mặt chủ yếu ở ven biển Quảng Ninh - Hải Phòng như cửa sông Đầm Hà, Hà Cối, cửa Nam Triệu. - Dạng có bãi bồi phát triển thành cồn, bãi ngầm hẹp ở ven bờ, bờ biển thuộc loại mài mòn, sóng và dòng chảy ven bờ đóng vai trò chính trong quá trình phát triển cửa sông. Các cửa dạng này thường có mặt ở ven biển Nghệ An - Hà Tĩnh như Cửa Lò, Cửa Hội.