Tổng quan luận án
Sạt lở đất là một trong những loại hình thiên tai nguy hiểm và phổ biến trên thế giới, phân bố ở cả 5 châu lục, trong đó châu Á là khu vực ghi nhận nhiều vị trí sạt lở nhất (chiếm 65,2%), tiếp theo là châu Âu (23,8%), châu Mỹ, châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ lệ còn lại (Reichenbach và cộng sự, 2018). Tại Việt Nam, sạt lở đất xảy ra thường xuyên tại các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực duyên hải miền Trung – Tây Nguyên. Dù thường xuất hiện trong phạm vi hẹp và thời gian ngắn, hiện tượng này gây tổn thất lớn về tính mạng và tài sản. Theo thống kê của Tổng cục Phòng chống thiên tai – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong giai đoạn 2000–2020, thiên tai lũ quét và sạt lở đất tại Việt Nam đã làm 1.117 người chết và mất tích, 671 người bị thương, cùng 12.038 ngôi nhà bị sập đổ. Đặc biệt, trong tháng 10 năm 2020, khu vực miền Trung đã xảy ra liên tiếp 18 trận sạt lở đất và lũ quét nghiêm trọng tại các địa bàn như Thủy điện Rào Trăng 3, Tiểu khu 67, Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 337, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Cha Lo, xã Trà Mai, xã Trà Vân, xã Trà Leng.
Bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất là tài liệu cơ bản hỗ trợ công tác quy hoạch không gian, phòng chống thiên tai và thiết kế công trình xây dựng. Tuy nhiên, việc xây dựng loại bản đồ này tại các khu vực hạn chế về dữ liệu quan trắc gặp nhiều thách thức. Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam sử dụng dữ liệu lượng mưa trung bình nhiều năm (TBNN) và một lớp bản đồ chỉ số thực vật (NDVI) tĩnh duy nhất để đưa vào mô hình dự đoán. Cách tiếp cận này chưa phản ánh đúng bản chất kích hoạt sạt lở của các đợt mưa lớn tích lũy kéo dài nhiều ngày, đồng thời bỏ qua tính biến động theo thời gian của thảm phủ thực vật. Khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi là địa bàn có tần suất sạt lở cao nhưng hạn chế về chuỗi dữ liệu thực đo chi tiết. Đề tài "Nghiên cứu nâng cao độ chính xác trong xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất cho khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi" của nghiên cứu sinh Đoàn Việt Long (chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng công trình thủy, mã số 9580202, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng, năm 2024) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống kỹ thuật này.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Nâng cao độ chính xác trong xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất cho khu vực hạn chế dữ liệu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xây dựng được bộ dữ liệu đầu vào cho mô hình học máy dự đoán nguy cơ sạt lở đất.
- Xác định được mô hình dự đoán nguy cơ sạt lở đất phù hợp, có độ chính xác cao cho một khu vực nghiên cứu cụ thể.
- Xây dựng được bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất theo tần suất mưa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
- Các vụ sạt lở đất đã xảy ra trong quá khứ.
- Mô hình học máy dự đoán nguy cơ sạt lở đất.
- Các phương pháp đánh giá mô hình và đánh giá bản đồ phân vùng.
- Hệ thống công trình thủy trong phạm vi khu vực nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Địa bàn 5 huyện miền núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi (gồm Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng).
- Phạm vi thời gian: Phân tích chuỗi số liệu các sự kiện sạt lở đất lịch sử giai đoạn 2007–2020; khôi phục hiện trạng trượt lở qua ảnh viễn thám giai đoạn 2016–2020; kiểm chứng và đánh giá thực tế trên các sự kiện sạt lở năm 2021, 2022 và khảo sát thực địa năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất trên thế giới và tại Việt Nam:
| Nhóm phương pháp |
Phương pháp cụ thể |
Đặc điểm và hạn chế theo tổng quan tài liệu |
| Định tính (Qualitative) |
Đánh giá hiện trạng sạt lở, phân tích địa mạo, đánh giá chuyên gia (heuristic). |
Không đòi hỏi quá nhiều dữ liệu đo đạc, nhưng mang tính chủ quan, phụ thuộc lớn vào kinh nghiệm chuyên gia khảo sát (Shano và cộng sự, 2020). |
| Bán định lượng (Semi-quantitative) |
Phân tích thứ bậc (AHP), tập mờ (fuzzy logic), phân tích lớp phủ có trọng số. |
Gán trọng số thứ bậc cho các nhân tố gây trượt. Vẫn tồn tại yếu tố chủ quan khi xác lập ma trận so sánh cặp (Phan Văn Hùng, 2019; Shano và cộng sự, 2020). |
| Định lượng tiền định (Deterministic) |
Phân tích cơ học cân bằng giới hạn, tính toán hệ số an toàn mái dốc. |
Độ chính xác cao, mô tả đúng cơ chế vật lý nhưng đòi hỏi dữ liệu địa chất công trình, địa kỹ thuật và thủy lực chi tiết, chỉ áp dụng hiệu quả cho phạm vi hẹp (Reichenbach và cộng sự, 2018). |
| Định lượng thống kê hai biến |
Tỷ lệ tần suất (FR), Chỉ số thống kê (SI), Bằng chứng có trọng số (WoE), Chỉ số Entropy (IoE). |
Kết hợp từng yếu tố với mật độ trượt lở. Dễ áp dụng trên GIS nhưng không xét đến tương tác đồng thời giữa nhiều biến và phụ thuộc vào cách phân lớp (Pradhan và cộng sự, 2010). |
| Định lượng thống kê đa biến |
Hồi quy Logistic (LR), Mạng nơ-ron nhân tạo (ANN), Phân tích biệt số (DA). |
Khắc phục hạn chế của thống kê hai biến, xử lý đồng thời nhiều yếu tố. LR và ANN là hai phương pháp phổ biến nhất (Pradhan và cộng sự, 2010; Rasyid và cộng sự, 2016). |
| Học máy & Học sâu (Machine Learning & Deep Learning) |
Cây quyết định (DT), Máy vector hỗ trợ (SVM), Rừng ngẫu nhiên (RF), Tăng cường độ dốc (XGBoost), CNN, RNN. |
Mô hình hóa phi tuyến hiệu quả trên không gian dữ liệu lớn. Các kỹ thuật Ensemble (RF, XGBoost) cải thiện độ chính xác và giảm thiểu hiện tượng quá khớp (Liu và cộng sự, 2021). |
Tổng quan của Reichenbach và cộng sự (2018) từ 565 công trình khoa học công bố đến năm 2016 chỉ ra 596 yếu tố ảnh hưởng đến sạt lở đất, trong đó độ dốc, hướng phơi sườn và địa chất là các nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất. Khảo sát của Liu và cộng sự (2021) giai đoạn 2015–2021 cho thấy sự gia tăng của các mô hình học máy trong dự đoán không gian sạt lở.
Tại Việt Nam, Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (2019) đã thực hiện điều tra hiện trạng trượt lở tại miền núi tỉnh Quảng Ngãi nhưng chưa thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ chi tiết gắn với kịch bản mưa. Nghiên cứu của Phan Văn Hùng (2019) sử dụng phương pháp bán định lượng AHP. Một số công trình sử dụng lượng mưa tích lũy như Bùi Tiến Diệu và cộng sự (mưa 8 ngày lớn nhất), Nguyễn Chí Công và cộng sự (mưa 3 ngày lớn nhất), song phần lớn chỉ sử dụng một bản đồ mưa tĩnh áp cho toàn bộ tập dữ liệu sạt lở nhiều năm.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Khắc phục tình trạng thiếu hụt dữ liệu vị trí và thời gian sạt lở tại khu vực miền núi Quảng Ngãi bằng phương pháp khôi phục dữ liệu từ ảnh viễn thám đa thời gian.
- Thay thế cách tiếp cận dùng lượng mưa TBNN và NDVI tĩnh bằng chuỗi dữ liệu động theo thời gian: lượng mưa tích lũy lớn nhất tại thời đoạn gây trượt và chỉ số NDVI tương ứng trước thời điểm xảy ra sự kiện.
- Ứng dụng phương pháp phân tích tần suất mưa vùng (RFA) để tích hợp yếu tố mưa cực đoan vào mô hình học máy, từ đó xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất theo các kịch bản tần suất xuất hiện lượng mưa.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và phân loại sạt lở
Luận án áp dụng khái niệm sạt lở đất theo Guzzetti (2005) và Varnes (1978): sạt lở đất là sự dịch chuyển của khối đất đá trên sườn dốc dưới tác động của trọng lực. Theo Highland (2008), sạt lở được phân chia theo hình thức vận động và vật liệu:
- Trượt (Slides): Trượt xoay (rotational slide) và trượt phẳng (translational slide).
- Rơi (Falls): Đá rơi, đất rơi và rơi hỗn hợp trên các sườn dốc 45°–90°.
- Chảy (Flows): Trượt dạng dòng bùn đất đá (debris flows), sạt lở do băng tan (debris avalanche), trượt từ biến (creep).
- Dòng chảy tràn (Lateral spread): Mở rộng khối vật liệu kết hợp sụt lún dọc theo đới đứt gãy.
Theo Guzzetti (2005, 2006), các cấp độ đánh giá sạt lở đất gồm: Phân vùng sạt lở đất (landslide zonation), Đánh giá nguy cơ theo không gian (landslide susceptibility assessment), Đánh giá nguy cơ theo không gian – thời gian (landslide hazard assessment), Đánh giá tổn thương (vulnerability assessment) và Đánh giá rủi ro (risk assessment). Luận án định vị trọng tâm vào đánh giá nguy cơ theo không gian gắn với kịch bản tần suất mưa.
Dữ liệu và kỹ thuật thu thập
- Dữ liệu ảnh viễn thám:
- Google Earth Pro: Sử dụng ảnh độ phân giải cao từ các vệ tinh Landsat 7 ETM+ (30 m), SPOT, FORMOSAT-2 (0,538 m), WorldView-1, WorldView-2 (0,5 m), GeoEye-1, IKONOS (0,2 m) để đối chiếu, nhận dạng vết trượt không có thảm phủ và xác định tọa độ.
- Landsat 8 (OLI/TIRS): 11 kênh phổ, độ phân giải không gian từ 15 m đến 100 m, chu kỳ chụp lặp lại 16 ngày, sử dụng trích xuất NDVI và kiểm tra biến động bề mặt.
- Sentinel-2A/B: Độ phân giải không gian 10 m, 20 m và 60 m, cung cấp dữ liệu phổ quang học đa thời gian để phát hiện biến động thảm phủ trước và sau trượt lở.
- Dữ liệu mô hình số độ cao (DEM): Sử dụng NASADEM độ phân giải 30 m để trích xuất các thông số địa hình: độ dốc (slope), hướng phơi sườn (aspect), độ cao địa hình (elevation), độ cong bề mặt (curvature), và chỉ số độ ẩm địa hình (Topographic Wetness Index - TWI).
- Dữ liệu chuyên ngành: Bản đồ địa chất, loại đất, mạng lưới sông suối, mạng lưới đường giao thông (tính toán khoảng cách đến sông suối, khoảng cách đến đường giao thông).
- Dữ liệu khí tượng thủy văn: Số liệu quan trắc từ 18 trạm đo mưa trên khu vực nghiên cứu và lân cận, thu thập chuỗi số liệu lượng mưa ngày phục vụ phân tích tần suất mưa vùng.
Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu
- Khôi phục hiện trạng sạt lở đất: Kết hợp phân tích biến động chỉ số thực vật trên ảnh Sentinel-2 với việc giải đoán trực quan trên không gian 3 chiều của Google Earth Pro nhằm xác định vị trí không gian và thời gian xuất hiện vết trượt.
- Xây dựng chuỗi dữ liệu mưa và NDVI: Phân tích các sự kiện sạt lở lịch sử có ghi nhận thời gian để tính toán lượng mưa tích lũy lớn nhất tại các thời đoạn 1 ngày (1-NLN), 3 ngày (3-NLN), 5 ngày (5-NLN) và 7 ngày (7-NLN). Trích xuất giá trị NDVI tương ứng tại thời điểm trước khi xảy ra trượt lở.
- Lựa chọn đặc trưng và kiểm tra đa cộng tuyến: Sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) để loại bỏ các biến có hiện tượng đa cộng tuyến (ngưỡng VIF > 5 hoặc 10). Áp dụng thuật toán Boruta (dựa trên thuật toán Random Forest) để đánh giá mức độ quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng.
- Phân tích tần suất mưa vùng (RFA): Phân chia vùng đồng nhất khí tượng, kiểm tra tính đồng nhất, lựa chọn hàm phân phối xác suất phù hợp để xây dựng bản đồ lượng mưa bình quân lớn nhất cho các thời đoạn 1, 3, 5, 7 ngày ứng với các tần suất thiết kế $P = 50%$, $20%$, $10%$, $5%$, $2%$.
- Mô hình hóa học máy (Machine Learning): Thử nghiệm và tinh chỉnh siêu tham số (fine-tuning) 5 thuật toán:
- Hồi quy Logistic (LR)
- Máy vector hỗ trợ (SVM) với hàm nhân RBF (Radial Basis Function)
- Cây quyết định (DT)
- Rừng ngẫu nhiên (RF) – kỹ thuật Bagging
- Tăng cường độ dốc cấp cao (XGBoost) – kỹ thuật Boosting
- Đánh giá mô hình và bản đồ: Sử dụng đường cong ROC và chỉ số diện tích dưới đường cong (AUC), độ chính xác toàn thể (ACC), hệ số Kappa ($k$), độ nhạy (SST), độ đặc hiệu (SPF), giá trị tiên lượng dương (PPV), giá trị tiên lượng âm (NPV). Kiểm chứng bản đồ phân vùng qua chỉ số mật độ sạt lở (LD) và đối chiếu các sự kiện sạt lở thực tế xảy ra trong giai đoạn 2021–2022.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng kết các cơ sở lý luận về hiểm họa sạt lở đất, các dạng trượt lở phổ biến theo phân loại của Varnes (1978) và Highland (2008), các nhân tố hình thành và kích hoạt trượt lở. Chương này phân tích các cấp độ đánh giá sạt lở từ phân vùng nguy cơ, đánh giá hiểm họa đến đánh giá rủi ro.
Tác giả điểm luận chi tiết 3 nhóm phương pháp xây dựng mô hình dự đoán (định tính, bán định lượng, định lượng). Phân tích cho thấy phương pháp học máy (thuộc nhóm định lượng thống kê) sở hữu ưu thế vượt trội trong việc xử lý mối quan hệ phi tuyến giữa các yếu tố môi trường và vị trí trượt lở. Chương 1 chỉ ra các hạn chế của nghiên cứu trong nước: thiếu dữ liệu không gian – thời gian chi tiết dẫn đến việc lạm dụng lượng mưa TBNN và thảm phủ tĩnh, đồng thời khẳng định sự cần thiết phải lựa chọn mô hình học máy tối ưu cho khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết các phương pháp sử dụng xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình 5 bước xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất bằng học máy:
[Thu thập dữ liệu hiện trạng & yếu tố ảnh hưởng]
[Phân tích, kiểm tra VIF & chọn lọc đặc trưng Boruta]
[Huấn luyện 5 mô hình học máy & Tinh chỉnh tham số]
[Kiểm tra, so sánh hiệu năng bằng ROC/AUC & Chỉ số thống kê]
[Tích hợp bản đồ mưa RFA lập Bản đồ phân vùng theo tần suất]
Nội dung chương mô tả chi tiết:
- Cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quang học: Google Earth Pro, Landsat 8 (11 kênh phổ), Sentinel-2A/B.
- Quy trình kết hợp ảnh Sentinel-2 và Google Earth để xác định tọa độ và thời gian sạt lở.
- Cơ sở toán học của kỹ thuật phân tích tần suất mưa vùng (RFA) để xác lập lượng mưa thiết kế theo vùng đồng nhất.
- Phương pháp phân tích đa cộng tuyến (VIF) và thuật toán Boruta.
- Thuật toán của 5 mô hình dự đoán: Logistic Regression, Support Vector Machine (hàm nhân RBF), Decision Tree, Random Forest và XGBoost.
- Các công thức tính toán chỉ tiêu thống kê kiểm chuẩn mô hình: ACC, SST, SPF, PPV, NPV, Kappa ($k$) và diện tích dưới đường cong ROC (AUC).
Chương 3: Nghiên cứu xác định mô hình dự đoán nguy cơ sạt lở đất phù hợp cho khu vực vùng núi tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3 triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu và huấn luyện mô hình cho 5 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi:
- Dữ liệu sạt lở: Phân tích 34 sự kiện sạt lở đất có ghi nhận thời gian xảy ra trong giai đoạn 2007–2020 trên địa bàn 5 huyện miền núi. Kết quả chỉ ra lượng mưa tích lũy các thời đoạn 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày và 7 ngày có tương quan chặt chẽ với sự xuất hiện sạt lở. Khôi phục thành công các điểm sạt lở giai đoạn 2016–2020 từ ảnh viễn thám kết hợp với các điểm không sạt lở để tạo tập mẫu nhị phân.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Thành lập các lớp dữ liệu chuyên đề gồm độ dốc, hướng phơi sườn, độ cao địa hình, TWI, độ cong địa hình, loại đất, khoảng cách đến đường giao thông, khoảng cách đến sông suối, chuỗi NDVI trước trượt lở, và chuỗi lượng mưa tích lũy lớn nhất.
- Sàng lọc dữ liệu: Phân tích VIF cho thấy các yếu tố đều có VIF < 5 (không có hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng). Thuật toán Boruta khẳng định tất cả các yếu tố được chọn đều đóng góp ý nghĩa vào khả năng dự đoán trong cả 4 trường hợp mưa (1-NLN, 3-NLN, 5-NLN, 7-NLN).
- Huấn luyện và so sánh mô hình: Thực hiện tinh chỉnh thông số (fine-tuning) cho 5 mô hình (LR, SVM, DT, RF, XGBoost) trên 4 kịch bản chuỗi mưa tích lũy (TH1: 1-NLN, TH2: 3-NLN, TH3: 5-NLN, TH4: 7-NLN) và 1 kịch bản mưa TBNN truyền thống.
Kết quả đánh giá cho thấy mô hình XGBoost đạt hiệu năng dự đoán cao nhất ở tất cả các kịch bản chuỗi mưa tích lũy. Khi sử dụng dữ liệu mưa TBNN, độ chính xác (AUC) của XGBoost giảm đáng kể so với khi sử dụng chuỗi mưa tích lũy lớn nhất, chứng minh tính ưu việt của cách tiếp cận dữ liệu động theo thời gian.
Chương 4: Phân vùng nguy cơ sạt lở đất theo tần suất mưa cho khu vực vùng núi tỉnh Quảng Ngãi
Chương 4 ứng dụng mô hình XGBoost tối ưu từ Chương 3 và phương pháp RFA để thành lập bản đồ phân vùng:
- Phân tích RFA: Sử dụng số liệu 18 trạm đo mưa, kiểm tra tính đồng nhất vùng và xác định hàm phân phối xác suất tối ưu để ngoại suy lượng mưa bình quân lớn nhất các thời đoạn 1-NLN, 3-NLN, 5-NLN, 7-NLN tương ứng với các tần suất $P = 50%$, $20%$, $10%$.
- Thành lập bản đồ: Tính toán chỉ số nguy cơ sạt lở đất (LSI) cho toàn bộ lưới pixel khu vực nghiên cứu, phân chia thành 5 cấp nguy cơ: "Rất thấp", "Thấp", "Trung bình", "Cao", "Rất cao". Tổng cộng có 12 bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất được thành lập (4 thời đoạn mưa $\times$ 3 tần suất mưa).
- Phân tích biến động diện tích: Khi tần suất mưa giảm (từ 50% xuống 10%, tức mưa càng cực đoan), số lượng điểm ảnh (pixel) và tỷ lệ diện tích thuộc cấp nguy cơ "Cao" và "Rất cao" gia tăng rõ rệt.
- Kiểm chứng thực tế:
- Sự kiện ngày 25/10/2021: Hai điểm sạt lở ta luy dương và ta luy âm trên tuyến đường từ đèo Eo Chim vào trung tâm xã Trà Nham, huyện Trà Bồng đối chiếu khớp chính xác vào vùng nguy cơ "Rất cao" trên bản đồ mưa 3-NLN tần suất 10%.
- Sự kiện ngày 10/10/2022: Điểm sạt lở tại Nhà máy Thủy điện Cà Tinh 1 nằm hoàn toàn trong vùng nguy cơ "Rất cao" trên bản đồ mưa 1-NLN tần suất 10%.
- Ứng dụng thực tiễn: Đánh giá mức độ nguy cơ sạt lở cho 22 công trình thủy trên địa bàn 5 huyện miền núi Quảng Ngãi (bao gồm đập thủy điện Hà Nang, đập và nhà máy thủy điện Cà Tinh 1, thủy điện Sơn Tây...); đánh giá chi tiết nguy cơ trượt lở cho cụm cơ quan hành chính huyện Sơn Tây và khu dân cư dọc tuyến ĐT626 qua thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Phương pháp luận làm giàu dữ liệu cho vùng hạn chế quan trắc: Thiết lập quy trình công nghệ kết hợp ảnh viễn thám đa nguồn (Sentinel-2, Google Earth Pro, Landsat 8) để khôi phục cơ sở dữ liệu hiện trạng trượt lở theo chuỗi thời gian (xác định cả tọa độ không gian và thời điểm xuất hiện vết trượt).
- Tiếp cận chuỗi dữ liệu động: Đề xuất và chứng minh tính hiệu quả của việc đưa các yếu tố biến động theo thời gian (lượng mưa tích lũy lớn nhất 1-NLN, 3-NLN, 5-NLN, 7-NLN tại thời điểm trượt và chỉ số thực vật NDVI trước trượt) vào huấn luyện mô hình học máy, thay thế cách làm truyền thống dùng lượng mưa TBNN và bản đồ NDVI tĩnh.
- Tích hợp phân tích tần suất mưa vùng (RFA) với mô hình học máy: Đề xuất khung phương pháp kết hợp kỹ thuật thủy văn RFA và thuật toán XGBoost để thành lập bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất gắn trực tiếp với các kịch bản tần suất mưa thiết kế.
Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bộ bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất chuyên đề: Xây dựng hoàn chỉnh 12 bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất (tương ứng 4 thời đoạn mưa 1, 3, 5, 7 ngày và 3 cấp tần suất 50%, 20%, 10%) với 5 cấp độ phân vùng cho 5 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
- Cơ sở dữ liệu an toàn công trình thủy: Đánh giá định lượng cấp độ nguy cơ sạt lở đất cho 22 công trình thủy (hồ chứa, đập dâng, nhà máy thủy điện) trên địa bàn 5 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, cung cấp căn cứ kỹ thuật phục vụ công tác quản lý an toàn đập và vận hành công trình mùa mưa lũ.
- Hỗ trợ quy hoạch dân sinh và hạ tầng giao thông: Nhận diện và khoanh vùng nguy cơ sạt lở cụ thể tại các khu vực trọng điểm như trung tâm hành chính huyện Sơn Tây và khu dân cư dọc tuyến đường ĐT626 (đoạn qua thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà).
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Ứng dụng bộ bản đồ phân vùng nguy cơ theo tần suất mưa vào công tác lập quy hoạch sử dụng đất, rà soát di dời dân cư vùng có nguy cơ sạt lở rất cao tại các huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng.
- Tích hợp bản đồ nguy cơ vào quy trình vận hành hồ chứa và phương án ứng phó thiên tai của các chủ quản lý công trình thủy điện, thủy lợi miền núi.
- Triển khai giải pháp gia cố công trình và phi công trình đối với các mái dốc dọc tuyến giao thông huyết mạch (như ĐT626, đường đèo Eo Chim) và các vị trí xung yếu quanh các nhà máy thủy điện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về dữ liệu viễn thám: Việc khôi phục hiện trạng trượt lở từ ảnh quang học (Sentinel-2, Landsat) phụ thuộc vào độ che phủ mây; các đợt mưa bão kéo dài tại miền Trung thường gây khó khăn trong việc thu nhận ảnh quang học sạch mây ngay sau thời điểm sạt lở.
- Về phân giải thời gian: Luận án mới chỉ đánh giá nguy cơ sạt lở theo không gian ứng với các kịch bản tần suất mưa ngày (1, 3, 5, 7 ngày tích lũy), chưa mô hình hóa theo thời gian thực (real-time early warning) do hạn chế về mạng lưới trạm đo mưa tự động đo theo giờ và dữ liệu quan trắc dịch chuyển mái dốc liên tục.
- Về phạm vi kiểm chứng: Số lượng vụ sạt lở có ghi nhận chính xác thời gian theo giờ/ngày trong quá khứ còn hạn chế, ảnh hưởng đến quy mô mẫu huấn luyện ban đầu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Xây dựng ngưỡng mưa gây sạt lở đất cho vùng nghiên cứu: Nghiên cứu kết hợp cường độ mưa ngắn hạn ($I$) và thời gian mưa ($D$) hoặc lượng mưa tích lũy để xác lập đường ngưỡng mưa ($I-D$ threshold) phục vụ hệ thống cảnh báo sớm thời gian thực.
- Đề xuất giải pháp phòng chống sạt lở đất cho các khu vực có nguy cơ sạt lở rất cao: Tập trung nghiên cứu các giải pháp công trình (kết cấu tường chắn, neo đất, thoát nước ngầm mái dốc) và phi công trình (trồng cây thảm phủ sâu, bản đồ sơ tán dân) cho các vị trí xung yếu đã được nhận diện (các công trình thủy điện và khu dân cư ĐT626).
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên:
- Ngành Kỹ thuật Xây dựng Công trình Thủy, Địa kỹ thuật Xây dựng, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Tham khảo phương pháp đánh giá an toàn sườn dốc và công trình thủy dưới tác động của mưa cực đoan.
- Chuyên ngành Bản đồ, Viễn thám và GIS, Trí tuệ Nhân tạo / Khoa học Dữ liệu: Tham khảo quy trình tiền xử lý chuỗi dữ liệu ảnh viễn thám đa nguồn (Google Earth, Landsat 8, Sentinel-2), kỹ thuật phân tích Boruta, VIF và phương pháp huấn luyện, tinh chỉnh các mô hình học máy (XGBoost, RF, SVM, DT, LR).
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách:
- Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Ngãi; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi.
- Tài liệu trực tiếp phục vụ công tác quy hoạch bố trí dân cư vùng thiên tai, cắm biển cảnh báo trượt lở trên các tuyến giao thông miền núi, và xây dựng kịch bản ứng phó sự cố thiên tai cấp tỉnh, cấp huyện.
- Đơn vị tư vấn, thiết kế và quản lý vận hành công trình thủy:
- Các ban quản lý dự án thủy điện, công ty khai thác công trình thủy lợi trên địa bàn miền Trung sử dụng 12 bản đồ phân vùng và bảng đánh giá nguy cơ 22 công trình thủy để lập quy trình quan trắc, bảo dưỡng mái dốc và vùng hạ lưu công trình.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án đề xuất dùng chuỗi mưa tích lũy lớn nhất (1-NLN, 3-NLN, 5-NLN, 7-NLN) thay cho lượng mưa trung bình nhiều năm (TBNN)?
Lượng mưa TBNN là giá trị tĩnh, làm phẳng các biến động thời tiết và không thể hiện được cơ chế gây trượt lở tại miền Trung – nơi sạt lở đất chủ yếu bị kích hoạt bởi các trận mưa bão lớn dồn dập trong vài ngày làm bão hòa đất và tăng áp lực nước lỗ rỗng. Kết quả thực nghiệm của luận án trong Chương 3 cho thấy mô hình XGBoost khi sử dụng chuỗi mưa tích lũy lớn nhất đạt độ chính xác phân loại (AUC) vượt trội so với khi dùng mưa TBNN.
2. Nguồn dữ liệu ảnh viễn thám nào đã được sử dụng để khôi phục hiện trạng sạt lở đất tại miền núi Quảng Ngãi?
Luận án kết hợp dữ liệu ảnh quang học đa nguồn:
- Sentinel-2A/B (10–20 m): Phân tích biến động phổ và chỉ số NDVI trước và sau các đợt mưa bão để phát hiện vị trí mất thảm phủ.
- Google Earth Pro: Sử dụng các lớp ảnh lịch sử độ phân giải cao (từ các vệ tinh SPOT, WorldView-1/2, GeoEye-1, Landsat 7 ETM+) để kiểm tra vết trượt trên mô hình địa hình 3D và xác định tọa độ.
- Landsat 8 (OLI/TIRS): Trích xuất chuỗi chỉ số thực vật NDVI trước thời điểm xảy ra sự kiện sạt lở.
3. Mô hình học máy nào cho kết quả dự đoán nguy cơ sạt lở đất tốt nhất và được đánh giá qua những chỉ số nào?
Mô hình Tăng cường độ dốc cấp cao (XGBoost) cho kết quả dự đoán tốt nhất trong số 5 mô hình thử nghiệm (LR, SVM, DT, RF, XGBoost) ở tất cả các kịch bản mưa tích lũy. Hiệu năng mô hình được đánh giá toàn diện qua diện tích dưới đường cong ROC (AUC), độ chính xác toàn thể (ACC), hệ số Kappa ($k$), độ nhạy (SST), độ đặc hiệu (SPF), giá trị tiên lượng dương (PPV) và giá trị tiên lượng âm (NPV).
4. Phương pháp phân tích tần suất mưa vùng (RFA) đóng vai trò gì trong luận án?
Kỹ thuật RFA được sử dụng để xử lý số liệu quan trắc từ 18 trạm đo mưa, kiểm tra tính đồng nhất vùng và xác định hàm phân phối xác suất tối ưu. Từ đó, tác giả xây dựng bản đồ phân bố lượng mưa bình quân lớn nhất theo các thời đoạn (1, 3, 5, 7 ngày) tương ứng với các tần suất thiết kế ($P = 50%$, $20%$, $10%$), làm dữ liệu đầu vào để lập 12 bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất mang tính động.
5. Bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất của luận án được kiểm chứng bằng những sự kiện thực tế nào?
Bản đồ được kiểm chứng qua các sự kiện sạt lở có ghi nhận tọa độ và thời gian trong năm 2021 và 2022:
- Vụ sạt lở ta luy dương và ta luy âm ngày 25/10/2021 trên tuyến đường từ đèo Eo Chim vào trung tâm xã Trà Nham, huyện Trà Bồng (trùng khớp với vùng nguy cơ "Rất cao" trên bản đồ mưa 3-NLN tần suất 10%).
- Vụ sạt lở ngày 10/10/2022 tại Nhà máy Thủy điện Cà Tinh 1 (trùng khớp với vùng nguy cơ "Rất cao" trên bản đồ mưa 1-NLN tần suất 10%).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS. Đoàn Việt Long đã giải quyết bài toán nâng cao độ chính xác trong phân vùng nguy cơ sạt lở đất cho vùng hạn chế dữ liệu đo đạc tại 5 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Bằng việc ứng dụng ảnh viễn thám đa nguồn để khôi phục dữ liệu quá khứ và xây dựng chuỗi dữ liệu động (NDVI, lượng mưa tích lũy lớn nhất), tác giả đã chứng minh mô hình học máy XGBoost đạt hiệu năng dự đoán vượt trội so với các mô hình truyền thống. Việc kết hợp phân tích tần suất mưa vùng (RFA) với XGBoost đã thành lập thành công 12 bản đồ phân vùng nguy cơ sạt lở đất theo kịch bản tần suất mưa, được kiểm chứng chuẩn xác qua các sự kiện sạt lở thực tế năm 2021–2022. Đây là tài liệu khoa học có độ tin cậy cao, phục vụ trực tiếp cho công tác phòng chống thiên tai, quy hoạch dân cư và quản lý an toàn 22 công trình thủy trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.