CHƯƠNG 1 MỞ ðẦU 1.1 Giới thiệu Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa sông-biển và trở thành hệ sinh thái rất ñộc ñáo và phức tạp nhưng giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Bờ biển nước ta kéo dài 3.260 km cùng với hàng loạt hệ thống sông, rạch ñổ nước ra biển ñã tạo nên một vùng cửa sông rộng lớn có giá trị quan trọng không những về phương diện sinh thái mà còn quan trọng ñối với sự phát triển thủy sản và kinh tế nước nhà (Vũ Trung Tạng, 1994; Võ Sĩ Tuấn, 2002). Hệ sinh thái cửa sông từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu thuộc vùng biển ðông Nam Bộ. Dọc theo vùng ven bờ có 4 cửa sông chính chảy ra biển ðông là cửa ðịnh An, cửa Trần ðề (2 cửa này thuộc sông Hậu, khu vực huyện Long Phú) và cửa Mỹ Thanh (thuộc sông Mỹ Thanh, khu vực huyện Long Phú và Vĩnh Châu) và cửa Gành Hào (thuộc huyện ðông Hải) với hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên vùng này chịu ảnh hưởng của nước ngọt nội ñồng và sông Mê- Kông ñổ ra, ñộ mặn giảm xuống dưới 5 ppt vào mùa mưa và tăng lên 33 ppt vào mùa khô (Nguyễn Minh Niên, 2009).
Trong khi ñó, vùng biển gần bờ thì nằm trong giới hạn của ñường ñẳng sâu 30m, ít chịu ảnh hưởng của khối nước ngọt từ sông Mê-Kông ñổ ra nên có nồng ñộ muối tương ñối ổn ñịnh, trung bình trong mùa khô 33-34 ppt, mùa mưa 30-33 ppt ở tầng mặt. Nhiệt ñộ nước trung bình ở tầng mặt 27-29oC. Vùng này chịu ảnh hưởng rõ rệt của dòng chảy từ phía Nam ñi lên trong mùa gió mùa Tây Nam và dòng chảy theo hướng Bắc-Nam trong mùa gió ðông Bắc (Lê ðức Tố và ctv,. Vì vậy, ñộng thực vật thủy sinh không những phong phú về thành phần loài mà cả về cấu trúc nhóm loài cũng thể hiện ñược sự thích nghi của thủy sinh vật ñối với thủy vực nước chảy (Sở Thuỷ Sản Sóc Trăng, 2002).
Thời gian gần ñây, tại ngư trường vùng biển ven bờ từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu số lượng tàu thuyền trong và ngoài tỉnh ñến khai thác thủy sản tăng ñột biến. Diễn biến sản lượng khai thác ở vùng biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu biến ñộng theo xu hướng tăng mạnh từ 2005 ñến 2012 (tăng từ 91. Trong khi ñó, năng suất khai thác ở vùng nghiên cứu thì có xu hướng giảm từ năm 2008 (0,48 tấn/CV) ñến năm 2012 (0,51 tấn/CV). Phương tiện tham gia khai thác cũng tăng nhanh liên tục cả về số lượng lẫn tổng công suất máy tàu (năm 2000 có 1568 tàu ñến năm 2012 có 2260 tàu.
Trong ñó, số lượng tàu khai thác xa bờ (>90 CV) chiếm tỷ lệ khoảng 26,04- 1 35,05% so với tổng số tàu khai thác của hai tỉnh. ðiều ñó, cho thấy số lượng tàu thuyền khai thác có công suất nhỏ hơn 90 CV ngày càng tăng, hoạt ñộng chủ yếu của các tàu này tập trung ở vùng ven bờ với các loại ngư cụ khai thác bằng lưới kéo, lưới rê và ñóng ñáy với kích cở mắt lưới khai thác tương ñối nhỏ. Sự suy giảm nghiêm trọng của nguồn lợi thủy sản ven biển ñã tác ñộng mạnh mang tính tiêu cực ñến năng suất và hiệu quả khai thác cũng như hiệu quả của các mô hình nuôi thủy sản ven biển có liên quan tới nguồn lợi và hậu quả là gây ra những tác ñộng lớn về kinh tế -xã hội ñối với các cộng ñồng ven biển (Lê Xuân Sinh, 2006). ðể nâng cao ñược hiệu quả sử dụng các ñặc trưng sinh thái và kinh tế trong quá trình khai thác các nguồn lợi ở vùng biển ven bờ, cần nghiên cứu một cách cơ bản và ñồng bộ những ñặc trưng, cấu trúc và chức năng của mỗi thành phần (Nguyễn Tác An và ctv.
Xuất phát từ thực trạng trên, ñề tài “Cơ sở khoa học về môi trường nước và thủy sinh vật ñể quản lý nguồn lợi thủy sản vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu” ñã ñược thực hiện.2 Mục tiêu tổng quát Mục tiêu của ñề tài này nhằm cung cấp cơ sở khoa học về môi trường nước và thủy sinh vật phục vụ cho việc bảo vệ, khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu.3 Mục tiêu cụ thể • ðánh giá sự biến ñộng của một số chỉ tiêu môi trường và hiện trạng nguồn lợi phiêu sinh vật, cá, tôm phân bố ở vùng ven biển từ Sóc trăng ñến Bạc Liêu, làm cơ sở khoa học ñể quản lý môi trường, nguồn lợi và ñịnh hướng phát triển nuôi trồng thủy sản. • Xác ñịnh một số ñặc ñiểm sinh học và mùa vụ sinh sản của một số loài cá có sản lượng khai thác chiếm ưu thế tại vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu, làm cơ sở khoa học cho việc quản lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi hải sản ở ñịa phương. • Xây dựng các kịch bản quản lý nghề cá dựa trên cơ sở cân bằng các mắc xích nguồn lợi thủy sinh vật bằng mô hình Ecopath with Ecosim.4 Nội dung nghiên cứu • Xác ñịnh ñặc tính môi trường nước và sinh vật phù du phân bố ở vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu; • Xác ñịnh thành phần loài cá, tôm phân bố ở vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu; 2 • Phân tích ñặc ñiểm sinh trưởng, phát triển tuyến sinh dục và mùa vụ sinh sản của một số loài cá phân bố vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu; • Xây dựng mô hình cân bằng sinh khối thủy sinh vật vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu.5 Những ñiểm mới và ý nghĩa thực tiễn của luận án • Luận án ñã ñúc kết tương quan biến ñộng các yếu tố môi trường nước, qua ñó ghi nhận các thời ñiểm cần quan tâm quản lý trong năm ở vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu, làm cơ sở khoa học cho việc ñánh giá chất lượng môi trường phục vụ bảo vệ ñời sống thủy sinh vùng ven biển. • Luận án ñã nghiên cứu và phân tích ñược chuỗi mắc xích thức ăn tự nhiên từ sinh vật phù du ñến nguồn lợi cá, tôm ở vùng ven biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu, cung cấp một số thông tin mới về ñời sống quần xã thủy sinh vật, làm cơ sở khoa học ñể quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng và Bạc Liêu.
• Luận án ñã nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học sinh trưởng, ñặc ñiểm phát triển tuyến sinh dục và mùa vụ sinh sản của một số loài cá biển nhằm phục vụ cho công tác phát triển ñối tượng nuôi trồng thủy sản nước lợ ở tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu nói riêng và ðồng bằng sông Cửu Long nói chung. • Luận án ñã tổng hợp, phân tích cơ sở phương pháp luận mô hình cân bằng sinh khối (Ecopath) và mô hình mô phỏng biến ñộng sản lượng theo nỗ lực khai thác (Ecosim), từ ñó thiết kế mô hình Ecopath with Ecosim cho vùng biển từ Sóc Trăng ñến Bạc Liêu, mở ra một hướng mới trong quản lý nghề cá theo cách tiếp cận hệ sinh thái. 3 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Vị trí ñịa lý và ñặc ñiểm hình thái vùng biển Việt Nam Biển Việt Nam nằm ở phía Tây Nam Thái Bình Dương, có thềm lục ñịa rộng với ñịa hình ñáy biển khá phức tạp, dựa trên sự khác biệt về ñiều kiện tự nhiên, ñịa hình ñịa mạo và ñặc ñiểm khí hậu mà biển Việt Nam ñược chia thành 5 vùng chính: vùng vịnh Bắc Bộ, vùng biển miền Trung, vùng biển ðông Nam Bộ, vùng biển Tây Nam Bộ và vùng biển xa bờ nằm ở giữa biển ðông (Hình 1. Vùng vịnh Bắc Bộ: là vịnh nhỏ, nằm ở phía Tây Bắc Biển ðông, phạm vi từ 17o00’N-21o50’ và 105o40’E-110o00’E.
Diện tích (chỉ riêng ở phía Việt Nam) khoảng 22.207,5 hải lý vuông, tương ứng bằng 76. Vùng biển Miền Trung (Trung Bộ): có ñường ranh giới từ vĩ ñộ 17o00’N và về phía Nam kéo dài tới 11o30’N thềm lục ñịa rất hẹp. ðường ñẳng sâu 200 m gần với bờ ñộ dốc tương ñối lớn, phạm vi ngư trường hẹp. Vùng biển ðông Nam Bộ: có ñường ranh giới từ Phan Thiết kéo dài tới mũi Cà Mau, thềm lục ñịa rất rộng, ñường ñẳng sâu 100 m mở rộng tới khoảng 300 m hải lý cách bờ.
Vùng biển Tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan): vùng biển nằm trong phạm vi 6 00’N-13o10’N và 99o15’E-105o05’E. ðây là vịnh nông và tương ñối kín, o vịnh có hình dạng ê-lip, trục dài 450 hải lý, chạy theo hướng Tây Bắc và trục ngắn dài 300 hải lý. Phía Tây và Tây Bắc giáp biển Thái Lan. Phía Tây Nam giáp với biển Malaysia, phía ðông và ðông Bắc giáp với biển Campuchia và bờ biển Việt Nam, một phần phía ðông thông với biển ðông.
Vùng biển xa bờ (vùng quần ñảo Hoàng Sa và Trường Sa): Quần ñảo Hoàng Sa gồm 37 ñảo, ñá, bãi cạn, bãi ngầm và một số ñối tượng ñịa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa, thành phố ðà Nẵng. Khu vực quần ñảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 30. Trong khi quần ñảo Trường Sa (thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà) là một tập hợp hơn một trăm ñảo nhỏ, bãi ñá ngầm hình thành từ san hô (nằm lập lờ hoặc nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống thấp), bãi cát ngầm, bãi ngầm và ñược bao bọc bởi một vùng biển rộng khoảng 198. Vùng biển rộng lớn của hai quần ñảo Hoàng Sa và Trường Sa là hai ngư trường khai thác hải sản truyền thống của ngư dân Việt Nam.1: Bản ñồ phân vùng biển Việt Nam 2.2 ðặc ñiểm môi trường vùng ven biển Việt Nam Việt Nam là quốc gia ven bờ biển ðông với vùng ñặc quyền kinh tế rộng hơn một triệu km2, ñường bờ biển dài trên 3.260 km, các tỉnh ven biển nước ta ngày càng có vị trí ñặc biệt quan trọng ñối với phát triển kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng trong tất cả các thời kỳ phát triển ñất nước.
Tuy nhiên, hoạt ñộng phát triển gia tăng diễn ra tại các vùng biển và ven biển như các thành phố lớn, khu du lịch, khu công nghiệp, khai thác mỏ và khoáng sản, nuôi trồng thủy sản, giao thông vận tải và nhiều hoạt ñộng khai thác sử dụng tài nguyên 5 thiên nhiên khác làm nảy sinh nhiều vấn ñề môi trường bức xúc như xói lở bờ biển, phú dưỡng, thủy triều ñỏ, ô nhiễm dầu, sụt lún và suy giảm chất lượng nước ngầm, sinh cảnh bị phá hoại, sản lượng ñánh bắt ngày càng hạn chế (Hứa Chiến Thắng, 2006).