CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MOBILE IP 1.1 Khái niệm cơ bản Mobile Ip là một giao thức của IETF giúp người dùng với thiết bị di động có thể di chuyển từ mạng này sang mạng khác với những địa chỉ IP subnet khác nhau mà vẫn duy trì được kết nối đang diễn ra. Mobile Ip trở thành giao thức không thể thiếu trong thế giới di động, trong công nghệ tương lai (công nghệ 4G). Mobile Ip có rất nhiều mở rộng và phát triển khác nhau như Mobile Ipv4, Mobile Ipv6, Fast Mobile Ip, Multiple CoA Mobile Ip,… Mobile Ip cho phép các node tiếp tục nhận dữ liệu mà không quan tâm đến vị trí kết nối của node vào mạng Internet. Mobile Ip cung cấp các bản tin điều khiển cho phép các thành phần trong mạng cập nhật các bảng định tuyến một cách tin cậy.
Mobile Ip được triển khai mà không cần có bất cứ một yêu cầu nào với các tầng vật lý và liên kết dữ liệu, vì vậy Mobile Ip độc lập với các công nghệ truy cập không dây [3]. Một số khái niệm cơ bản trong Mobile Ip: - Mobile Node (viết tắt là MN) nút di động: để chỉ một host hoặc một rounter thay đổi điểm kết nối từ mạng này sang mạng khác. - Home Agent (viết tắt là HA), khi MN di chuyển khỏi mạng thường trú (home network) nó cần một đại diện thay mặt, đại diện này là HA, vai trò của HA là tạo đường hầm để chuyển tiếp gói tin đến MN khi nó rời khỏi mạng nhà và lưu trữ thông tin ví trí hiện tại của MN. - Foreign Agent (viết tắt là FA), khi MN di chuyển khỏi mạng thường trú nó phải có một địa chỉ tạm trú gọi là CoA (Care of Address) là địa chỉ IP có thể được sử dụng để truyền các gói dữ liệu đến đích tương ứng với địa chỉ này theo những giao thức tìm đường cơ bản của IP.
MN thông báo địa chỉ CoA cho HA để biết địa điểm của MN, MN có địa chỉ này từ FA. - Correspondent Node (viết tắt là CN) là một node trong mạng có nhu cầu truyền thông với MN, CN không phải là một thành phần của Mobile Ip nhưng được đưa vào để mô tả hoạt động của giao thức. Nguyên tắc hoạt động của Mobile Ip - Khi một MN ra khỏi mạng thường trú (home network), làm thế nào để MN biết là nó đã đi ra khỏi mạng cũng như tìm đại diện mới nếu đã ở mạng khách (foreign network)? HA và FA thường xuyên gửi gói tin quảng bá để thông báo khả năng của mình theo chu kỳ, do đó MN phát hiện ra nó đang ở mạng khác và tiến hành quá trình tìm kiếm đại diện tạm trú của nó. 3 - Sau khi đã nhận được thông tin về FA, MN có thể bắt đầu liên lạc với FA.
MN gửi yêu cầu đăng ký thông tin đến HA (ở đây là địa chỉ CoA, tùy theo phương thức kết nối mạng mà MN gửi đăng ký trực tiếp đến HA hoặc thông qua FA) để được lưu thông trong một thời gian, yêu cầu này có thể là cho phép hoặc từ chối. - Nếu HA cho phép nó sẽ làm việc như người được ủy nhiệm của MN. Khi mạng gốc của MN nhận được các gói tín hiệu có địa chỉ đến là MN, HA sẽ nhận những gói tin này đóng gọi lại và tiếp tục gửi tới địa chỉ của FA mà MN đã đăng ký. FA sẽ mở các gói tin này và gửi tới MN vì nó biết MN đang ở đó một cách chính xác.
HA dùng phương pháp đóng gói để chuyển thông tin cho MN bằng cách dùng thêm phần mào đầu của gói và chuyển theo đường hầm đến MN. - Quá trình trên sẽ tiếp tục cho đến khi hết hạn đăng ký hoặc MN chuyển đến mạng mới. Khi xảy ra hiện tượng hết hạn, MN phải đăng ký lại với HA của nó thông qua FA; khi MN chuyển đến mạng khác, nó gửi yêu cầu đăng ký mới qua FA mới, trong trường hợp này HA sẽ thay đổi địa chỉ nhờ chuyển CoA của MN và sẽ gửi tiếp các gói tin đã đóng gói tới địa chỉ nhờ chuyển CoA. - Khi MN trở về mạng thường trú, nó gửi một yêu cầu đăng ký lại đến HA thông báo nó đã ở mạng nhà để không thực hiện đường hầm và dọn bỏ các địa chỉ nhờ gửi trước.
Như vậy có thể phân chia thành 3 chức năng tương đối cách biệt như sau: - Phát hiện agent (agent discovery): qua chức năng này các HA và FA có thể quảng bá khả năng của mình trên mỗi liên kết mà nó cung cấp dịch vụ. MN mới đến một mạng có thể gửi các yêu cầu nhận thông tin để qua đó xác định các agent có khả năng phục vụ. - Đăng ký (registration): chức năng cung cấp cho MN khi hoạt động ở ngoài mạng nhà, MN sẽ đăng ký CoA của nó với HA. Tùy thuộc vào phương thức kết nối mạng ở mạng khách mà MN sẽ gửi trực tiếp đăng ký đến HA hoặc thông qua trung gian chuyển tiếp là FA.
- Tạo đường hầm (tunnelling): để chuyển tiếp dữ liệu đến MN khi rời khỏi mạng nhà, HA sẽ tạo một đường hầm và gửi dữ liệu đến CoA của MN. Nguyên tắc hoạt động của Mobile Ip có vẻ đơn giản nhưng đây cũng là một giải pháp hiệu quả để đảm bảo sự di động trong thế hệ mạng tương lai, mạng 4G. Để hiểu rõ hơn về nguyên lý hoạt động của Mobile Ip ta xem xét bản Mobile Ipv4.2 Giao thức Mobile Ipv4 Mobile Ipv4 thực hiện đầy đủ các chức năng: phát hiện agent, đăng ký và tạo đường hầm. Các chức năng cụ thể thực hiện như sau.1 Phát hiện agent Mobile IP sử dụng các bản tin để thực hiện, các bản tin được định nghĩa dựa trên giao thức tiêu chuẩn ICMP Router Discovery (Internet Control Message Protocol Router Discovery).
Hai bản tin trong Mobile Ip được hình thành dựa trên 2 bản tin của ICMP có thêm phần mở rộng [3]. - Bản tin agent advertisement (bản tin quảng cáo trạm): được truyền bởi các trạm phục vụ để quảng cáo các dịch vụ của nó trên một liên kết. MN dùng các bản tin quảng cáo này để xác định điểm kết nối hiện tại của nó vào Internet. Bản tin agent advertisement chính là bản tin ICMP Router Advertisment được mở rộng thêm phần bắt buộc Mobility Agent Advertisement Extension, có thể có 2 phần tùy chọn phần Prefix-Lengths Extension, và One-byte Padding Extension, hoặc các phần mở rộng khác có thể được định nghĩa trong tương lai [3].
Cấu trúc bản tin Agent Advertisement được định nghĩa như hình vẽ sau: Hình 1.1: Cấu trúc bản tin Agent Advertisement 5 Với phần IP header: Time to Live: luôn được thiết lập là 1, do bản tin này chỉ có tác dụng trên vùng mạng mà trạm phục vụ quản lý. Destination Address: với 1 bản tin multicast agent advertisement phải là địa chỉ multicast “all systems on this link” (224.1) hoặc địa chỉ broadcast được giới hạn (255. Phần ICMP: Trường Code: giá trị 0 trạm phục vụ điều khiển lưu lượng thông thường, tức là nó hoạt động như một router cho các gói IP của MN hoặc của các máy trạm khác; giá trị 16 trạm phục vụ không định tuyến lưu lượng thông thường, tuy nhiên tất cả các FA ít nhất phải hướng đến một router mặc định bất kỳ các gói tin nhận được từ một MN đã đăng ký. Lifetime: độ dài thời gian tối đa mà bản tin agent advertisement này được xem là còn giá trị khi chưa nhận được các bản tin agent advertisement của cùng một trạm sau đó.
Router address: địa chỉ IP của giao tiếp router mà tại đó bản tin này được gửi. Num addr: số các router address được quảng cáo trong bản tin này. Đặc biệt trường này có thể được thiết lập thành 0. Nếu được gửi định kỳ, khoảng thời gian mà bản tin agent advertisement được gửi không nên dài quá 1/3 trường Lifetime được chỉ định.
Điều này cho phép một MN được bỏ lỡ 3 bản tin agent advertisement liên tiếp trước khi xóa trạm phục vụ từ danh sách các trạm phục vụ hợp lệ của nó. Thời gian truyền thật sự cho mỗi bản tin agent advertisement nên được tạo ngẫu nhiên ở mức nhỏ để tránh đồng bộ và xung đột với các bản tin agent advertisement khác có thể được gửi bởi các trạm phục vụ khác. - Bản tin agent solicitation (bản tin xin phép trạm) giống như bản tin ICMP Router Solicitaiton nhưng phần IP TimetoLive phải được thiết lập là 1 [3]. Cấu trúc bản tin agent solicitation như sau: 6 Hình 1.2 : Cấu trúc bản tin Agent Solicitation 224.2: tất cả các router trên subnet này.2 Đăng ký Một MN thực hiện đăng ký bất kỳ khi nào nó phát hiện điểm kết nối của nó vào mạng đã thay đổi từ liên kết này sang liên kết khác, đồng thời do các đăng ký này chỉ hợp lệ trong một thời gian xác định (lifetime) nên một MN phải đăng ký lại khi đăng ký của nó sắp hết hạn.
Đăng ký là phương pháp mà các MN: Yêu cầu các dịch vụ chuyển tiếp gói tin khi MN đang ở một mạng ngoài. Cho HA của chúng biết CoA hiện tại của chúng. Làm mới lại một đăng ký sắp hết hạn. Hoặc hủy đăng ký khi chúng trở về mạng nhà[3].
Các bản tin đăng ký trao đổi thông tin giữa một MN và HA, có thể có thêm FA. Đăng ký dẫn đến việc tạo hoặc sửa một “liên kết di động” tại HA, đang liên kết home address của MN với CoA của MN trong thời gian Lifetime được chỉ định. Thông qua thủ tục đăng ký cho phép một MN có khả năng: Khám phá home address của nó, nếu MN không được cấu hình thông tin này. Duy trì nhiều đăng ký đồng thời, để tạo ra các bản copy của mỗi gói tin và các bản copy được chuyển đường hầm đến mỗi địa chỉ CoA.
Hủy đăng ký CoA được chỉ định trong khi vẫn giữ lại các liên kết di động khác, và Khám phá địa chỉ của một HA nếu MN không được cấu hình thông tin này. Trong MobileIP cung cấp 2 kiểu thay thế cho việc nhận được một địa chỉ: - Foreign Agent CoA: là một địa chỉ được cung cấp bởi FA thông qua các bản tin Agent Advertisement được FA quảng cáo. FACoA là địa chỉ IP của FA. Trong kiểu này FA là điểm cuối của đường hầm, FA lấy các gói tin ra khỏi đường hầm và phân phối các gói tin này đến MN.
Kiểu địa chỉ này được dùng 7 nhiều hơn vì nó cho phép nhiều MN cùng chia sẻ một CoA, do đó không phụ thuộc vào giới hạn địa chỉ IP của Ipv4. - CcoA là một địa chỉ cục bộ của vùng mạng ngoài, được cấp cho MN khi nó đến vùng mạng ngoài này.