Đặt vấn đề 1.1 Các vấn đề trong quản lý đô thị 1.1 Quản lý đô thị Trong đô thị luôn tồn tại các vấn đề ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, chữa bệnh, vui chơi giải trí,. Các nhu cầu đó ngày càng đòi hỏi cao hơn đồng thời các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh thêm. Để đáp ứng nhu cầu đó, việc tổ chức xã hội đô thị một cách khoa học và việc quản lý các hoạt động trở thành một yêu cầu khách quan. ”Quản lý đô thị là quá trình tác động bằng các cơ chế, chính sách của các chủ thể quản lý đô thị (các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các sở, ban ngành chức năng) vào các hoạt động đô thị nhằm thay đổi hoặc duy trì hoạt động đó.
Cụ thể là: • Nâng cao chất lượng và sự hoạt động một cách tổng thể của đô thị. • Đảm bảo sự phát triển bền vững và tái tạo bền vững của các khu vực đô thị. • Cung cấp các dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầng cơ bản để đáp ứng các nhu cầu chức năng của đô thị và các cư dân sống và làm việc trong đô thị, nhằm cải thiện chất lượng sống và sức khỏe của cư dân đô thị. 1 Từ những mục tiêu đã nêu trên thì quản lý đô thị sẽ có những chức năng theo các lĩnh vực quản lý cụ thể sau [1]: • Quản lý kinh tế đô thị.
• Quản lý xây dựng đô thị. • Quản lý đất đai và nhà ở đô thị. • Quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị. • Quản lý kết cấu hạ tầng xã hội đô thị.
• Quản lý dân số, lao động và việc làm đô thị. • Quản lý môi trường đô thị. Với tình hình dân số gia tăng nhanh chóng, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, công nghiệp hóa và phát triển công nghệ đang đặt ra những thách thức không hề nhỏ đối với vấn đề quản lý đô thị.2 Tình hình đô thị hóa và các hệ lụy của nó đến môi trường Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của toàn cầu. Quá trình đô thị hóa trên thế giới diễn ra không đồng đều, các nước phát triển như tại Châu Âu, Hoa Kỳ hay Úc thường có mức độ đô thị hóa cao trên 87% nhiều hơn nhiều so với các nước đang phát triển khoảng 35%, tại Việt Nam tính đến năm 2023 tỉ lệ đô thị hóa là 40%.
Quá trình đô thị hóa đòi hỏi sử dụng nhiều tài nguyên trong đó có rất nhiều tài nguyên không thể hoặc chậm tái tạo được. Từ vật liệu xây dựng đến thực phẩm, nước, không khí và đất đai, quá trình đô thị hóa không những sử dụng rất nhiều tài nguyên không tái tạo được mà còn thải ra môi trường xung quanh rất nhiều chất thải độc hại. Do đó, sự tồn tại của đô thị cần rất nhiều không gian để chôn lấp chất thải và những khoảng đệm sinh thái đủ lớn để các tài nguyên có thể tái tạo được. Tuy nhiên, những vùng như vậy thường bị co hẹp hoặc biến mất do nhu cầu phát triển dẫn đến mất cân bằng của hệ sinh thái.
Một số hệ lụy của đô thị hóa với môi trường sống: • Nguồn tài nguyên nước ngọt là sự sống còn của một đô thị đang bị cạn kiệt do khai thác bừa bãi trong quá trình đô thị hóa. Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, 2 chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và chất thải từ các bệnh viện làm cho nguồn nước mặt và nước ngầm bị ô nhiễm. Phạm vi đô thị ngày càng mở rộng đồng nghĩa với việc nguồn nước hồ không đủ thời gian để tự làm sạch và bê tông hóa ngăn chặn quá trình bổ sung nước ngầm cho đô thị. Nên vấn đề tài nguyên nước ngọt cho đô thị rất cần được chú trọng và giải quyết.
• Đất nông nghiệp mỗi năm trên thế giới bị mất đi hàng triệu ha do đô thị hóa. Theo số liệu thống kê, kiểm kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, bình quân mỗi năm đất nông nghiệp giảm gần 100 nghìn ha, đặc biệt năm 2017 giảm 120 nghìn hecta. Mất đất nông nghiệp sẽ dẫn đến mất cân bằng về lương thực và việc thâm canh, tăng năng suất trên diện tích đất còn lại để đáp ứng cho người dân đô thị sẽ là nguy cơ suy thoái tài nguyên trầm trọng hơn. • Đô thị mở rộng nhanh chóng về mặt không gian và hình thành những thành phố cực lớn hay vùng đô thị.
Dẫn đến nhu cầu sử dụng gỗ và các sản phẩm từ gỗ cho xây dựng, làm chất đốt, giấy v. tăng nhanh cộng với việc quy hoạch, quản lý kém làm cạn kiệt tài nguyên rừng. Đồng thời những vùng rừng cũng bị phá hủy để đáp ứng cho phát triển mở rộng đô thị. Khiến cho những mảng xanh đảm bảo chất lượng sống cho các đô thị bị đe dọa nghiêm trọng.2 Không gian xanh đô thị 1.1 Định nghĩa và tầm quan trọng của không gian xanh đô thị Bên cạnh những thách thức mà đô thị hóa đem lại, chúng ta cũng chứng kiến một sự thay đổi đáng kể trong cảnh quan đô thị.
Các toà nhà cao tầng, đường phố, và công trình xây dựng nổi bật trên bầu trời thành phố đã thay đổi diện mạo của các khu vực đô thị. Tuy nhiên, đô thị hóa không chỉ đánh đổi vẻ đẹp tự nhiên, mà còn đặt ra câu hỏi về sự cân bằng môi trường và chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị. Chính trong bối cảnh này, khái niệm ’không gian xanh đô thị’ xuất hiện như một giải pháp tiềm năng. Không gian xanh đô thị không chỉ là một phần của cảnh quan, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn môi trường, tạo ra môi trường sống lành mạnh cho cư dân đô thị và tạo ra các cơ hội cho hoạt động vui chơi, giải trí và xã hội.
Không gian xanh là không gian bao gồm: cây xanh có tán, cây bụi thảm cỏ, mặt nước trong các công viên, vườn hoa trong nội thành phố, thị xã và các không gian mặt nước (hồ, 3 sông, kênh, rạch,…) trong nội thành phố, nội thị xã. Không gian xanh đô thị đóng vai trò như là lá phổi của đô thị và là bộ phận quan trọng trong tổ hợp kiến trúc cảnh quan đô thị. Bao gồm các thành phần chính là các thảm thực vật và nước nên không gian xanh đô thị có tác dụng che nắng, giảm bức xạ, giảm sự chói lóa mắt, giảm nhiệt độ không khí và nhiệt độ bề mặt đất, điều hòa nhiệt độ đô thị, điều đó gián tiếp làm giảm mức tiêu thụ điện năng, tiết kiệm năng lượng. Cây xanh có tác dụng cải thiện môi trường, có khả năng lọc sạch không khí, hút bớt bụi khói và tiếng ồn, đồng thời phần nào ngăn được khí độc hại công nghiệp.
Một số nghiên cứu về tác dụng của cây xanh: • Tác dụng giảm bức xạ, hấp thụ khí nhà kính (CO2): Quá trình lục diệp hóa của cây xanh rất có lợi đối với yêu cầu chống nóng trong công trình kiến trúc, có tác dụng giảm thiểu khí nhà kính. Phát triển cây xanh có thể làm cho hàm lượng khí oxy trong không khí xung quanh tăng lên tới 20% và hàm lượng khí CO2 giảm đi. • Giảm nồng độ bụi: Cây xanh có tác dụng lọc bụi trong không khí, làm sạch môi trường. Cây xanh có thể giảm nồng độ bụi trong không khí từ 20-60%.
Kết quả đo lường tại một số đường phố Hà Nội cho thấy khi ở hai bên đường có những dẫy cây xanh thì nồng độ bụi ở tầng hai chỉ bằng 30-50% nồng độ bụi ở tầng một của nhà. • Hấp thụ tiếng ồn: Cây xanh có khả năng hút âm, giảm nhỏ tiếng ồn, đặc biệt là tiếng ồn giao thông. Các dẫy cây xanh dày đặc rộng 10-15m có thể giảm tiếng ồn 15-18dB. • Các nhà khoa học Nhật Bản đã tính toán diện tích cây xanh, mặt nước trong đô thị nếu đạt 20% đến 50% đất đô thị thì sẽ giúp làm giảm nhiệt độ từ 3,3 - 3,9 độ C.
Còn khi diện tích che phủ của cây xanh (thảm thực vật) được tăng lên 25% thì hiệu quả của bóng mát và bay hơi sẽ làm giảm từ 17% - 57% năng lượng cần thiết cho hệ thống điều hòa không khí và giảm đến 40% - 50% cường độ bức xạ mặt trời. Không gian xanh đô thị, với những lợi ích to lớn mà nó mang lại, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống và môi trường sống cho người dân, mà còn là một phần không thể thiếu trong hướng tới mục tiêu phát triển bền vững của các đô thị trên toàn thế giới. Sự hiện diện của không gian xanh trong các khu vực đô thị giúp tạo ra một môi trường sống lành mạnh, tăng cường sức khỏe cộng đồng, và góp phần vào việc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Do đó, việc bảo tồn và phát triển không gian xanh đô thị là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng đối với chúng ta trong thời kỳ hiện nay.2 Thực trạng không gian xanh đô thị Thẳng thắn nhìn nhận vấn đề là tỷ lệ diện tích cây xanh tại một số đô thị hiện nay còn thấp.
Ở Việt Nam chỉ từ 2 - 4m2 /người (theo thông tin từ Báo cáo Môi trường Quốc gia 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) mà theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng QCVN 01:2019/BXD, diện tích tối thiểu đất cây xanh sử dụng công cộng cho từng loại đô thị là từ 4 - 7m2 /người, chỉ tiêu xanh tối thiểu của Liên hợp quốc là 10m2 ). Trên thế giới không gian xanh đô thị hiện nay đang bị thiếu hụt diện tích trầm trọng do tình hình đô thị hóa. Theo diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) diện tích rừng ở các thành phố đã giảm 40.000ha mỗi năm trên toàn cầu trong vòng 5 năm qua, dưới áp lực của cơ sở hạ tầng đô thị. WEF và các chuyên gia khác nhấn mạnh rằng vấn đề là cây cối và không gian xanh đô thị đang bị coi là những thứ xa xỉ hoặc tiện nghi hiếm có để hấp dẫn người mua bất động sản, thay vì là một không gian hiển nhiên phải có của thành phố.
Một nửa dân số thế giới hiện đang sống tại các thành thị. Điều này tăng áp lực lên không gian xanh vốn đã hạn chế của đô thị. Các công viên, vườn hoa đang phải đối mặt với sự thu hẹp của diện tích đất công cộng, cạnh tranh giữa sử dụng đất cho các tiện ích công cộng với các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, giữa các tiện ích công cộng với nhau.