Luận án tiến sĩ nghiên cứu thay đổi lysyl oxidase của tế bào nội mô mạch máu võng mạc ở môi trường nồng độ glucose cao

Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ glucose cao đến lysyl oxidase trong tế bào nội mô mạch máu võng mạc, góp phần hiểu rõ bệnh lý tiểu đường.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhãn khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

162
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm mô học của mao mạch võng mạc

1.2. Lớp nội mô

1.3. Tế bào quanh mạch

1.4. Bất thường mao mạch võng mạc ở chuột đái tháo đường

1.5. Cơ chế sinh bệnh của các tổn thương mao mạch võng mạc do tình trạng đường huyết cao

1.6. Dày màng đáy mao mạch võng mạc

1.7. Rối loạn kết nối tế bào-tế bào

1.8. Thay đổi cấu trúc ti thể

1.9. Đặc điểm lysyl oxidase

1.10. Các tình trạng bệnh lý liên quan đến thay đổi mức độ biểu hiện LOX

1.11. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm

2.5. Phương tiện nghiên cứu

2.6. Cách thức tiến hành

2.7. Các chỉ số nghiên cứu

2.8. Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu

2.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

3.2. Sự thay đổi mức độ biểu hiện của LOX tại tế bào nội mô mạch máu võng mạc chuột trong môi trường nồng độ glucose cao

3.3. Tác động của môi trường nồng độ glucose cao đến mức độ biểu hiện của LOX

3.4. Tác động của các chất ức chế LOX tới mức độ biểu hiện của LOX

3.5. Tác động của sự thay đổi mức độ biểu hiện của LOX tới hoạt động của tế bào

3.6. Sự thay đổi mức độ bám dính của LOX với protein chất nền ngoại bào tại tế bào nội mô mạch máu võng mạc chuột trong môi trường nồng độ glucose cao

3.7. Thay đổi sự bám dính của LOX với protein chất nền ngoại bào

3.8. Thay đổi mật độ liên kết của LOX với protein chất nền ngoại bào

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Sự thay đổi mức độ biểu hiện của LOX

4.2. Thay đổi mức độ biểu hiện của LOX

4.3. Thay đổi hoạt động của tế bào liên quan đến thay đổi mức độ biểu hiện của LOX

4.4. Sự thay đổi mức độ bám dính của LOX với protein chất nền ngoại bào

HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lysyl oxidase

Lysyl oxidase (LOX) là một enzyme quan trọng trong quá trình hình thành và duy trì cấu trúc của màng đáy mao mạch. Enzyme này xúc tác quá trình oxy hóa lysine và hydroxylysine trong collagen và elastin, dẫn đến hình thành các liên kết chéo giữa các sợi collagen, từ đó tạo ra tính ổn định cho màng đáy. Nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi mức độ biểu hiện của LOX có thể ảnh hưởng đến chức năng của tế bào nội mô mạch máu, đặc biệt trong môi trường nồng độ glucose cao. Điều này có thể dẫn đến sự phát triển của các bệnh lý như bệnh võng mạc đái tháo đường. Theo một nghiên cứu gần đây, hàm lượng LOX tăng lên trong võng mạc của chuột đái tháo đường, cho thấy mối liên hệ giữa LOX và sự phát triển của bệnh lý võng mạc. Sự điều hòa của LOX có thể là một mục tiêu tiềm năng trong việc phát triển các phương pháp điều trị cho bệnh võng mạc đái tháo đường.

1.1. Chức năng của lysyl oxidase

Chức năng chính của LOX là xúc tác quá trình oxy hóa các amino acid trong collagen và elastin, tạo ra các aldehyd và dẫn đến hình thành các liên kết chéo. Quá trình này không chỉ giúp duy trì tính toàn vẹn của màng đáy mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển và chức năng của tế bào nội mô. Nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi trong hoạt động của LOX có thể dẫn đến các rối loạn chức năng của tế bào, đặc biệt là trong các điều kiện bệnh lý như đái tháo đường. Sự gia tăng nồng độ glucose có thể làm tăng mức độ biểu hiện của LOX, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của các mạch máu và gây ra các tổn thương trong võng mạc.

II. Tác động của nồng độ glucose cao đến lysyl oxidase

Môi trường nồng độ glucose cao có thể gây ra những thay đổi đáng kể trong mức độ biểu hiện của LOX trong tế bào nội mô mạch máu võng mạc. Nghiên cứu cho thấy rằng khi nồng độ glucose tăng, mức độ biểu hiện của LOX cũng tăng theo, dẫn đến sự gia tăng hoạt động của enzyme này. Điều này có thể góp phần vào sự phát triển của bệnh võng mạc đái tháo đường, khi mà màng đáy mao mạch trở nên dày hơn và gây ra các rối loạn chức năng. Sự thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc mà còn đến chức năng của tế bào nội mô, làm tăng tính thấm của mạch máu và dẫn đến hiện tượng rò rỉ mạch máu. Việc hiểu rõ cơ chế này có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh võng mạc đái tháo đường.

2.1. Sự thay đổi mức độ biểu hiện của lysyl oxidase

Sự thay đổi mức độ biểu hiện của LOX trong môi trường nồng độ glucose cao có thể được giải thích qua các cơ chế sinh học phức tạp. Nghiên cứu cho thấy rằng LOX không chỉ được tổng hợp và tiết ra từ tế bào nội mô mà còn có thể bị điều hòa bởi các yếu tố gây thiếu oxy (HIFs). Khi nồng độ glucose tăng, các yếu tố này có thể kích thích sự biểu hiện của LOX, dẫn đến sự gia tăng hoạt động của enzyme này. Điều này có thể tạo ra một vòng lặp phản hồi, trong đó sự gia tăng LOX lại làm tăng tính thấm của mạch máu, từ đó góp phần vào sự phát triển của bệnh lý võng mạc.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về lysyl oxidase trong tế bào nội mô mạch máu võng mạc ở nồng độ glucose cao có nhiều ứng dụng thực tiễn trong y học. Việc hiểu rõ cơ chế hoạt động của LOX có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị mới cho bệnh võng mạc đái tháo đường. Các liệu pháp nhắm vào việc điều chỉnh mức độ biểu hiện của LOX có thể giúp ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển của bệnh. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các biomarker để chẩn đoán sớm bệnh võng mạc đái tháo đường, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các chất ức chế LOX nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực của enzyme này trong bệnh võng mạc đái tháo đường. Ngoài ra, việc nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ giữa LOX và các yếu tố sinh học khác trong môi trường nồng độ glucose cao cũng sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về cơ chế bệnh sinh của bệnh lý này. Các nghiên cứu lâm sàng có thể được thực hiện để đánh giá hiệu quả của các liệu pháp mới trong việc điều trị bệnh võng mạc đái tháo đường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực trong dân số trong độ tuổi lao động [1-2]. Các giai đoạn đầu của bệnh võng mạc đái tháo đường được đặc trưng bởi sự hiện diện của mao mạch không có tế bào và sự chết tế bào ngoại mạch, tiếp đó là sự chết tế bào mạch máu võng mạc theo chương trình [3-4]. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng màng đáy mao mạch dày lên là dấu hiệu mô học của bệnh võng mạc đái tháo đường [5-6] và có thể thúc đẩy quá trình chết tế bào mạch máu [7-8]. Ngoài ra, màng đáy dày góp phần làm tổn thương hàng rào máu võng mạc dẫn đến hiện tượng tăng tính thấm thành mạch và rò rỉ mạch máu võng mạc [4], một dấu hiệu lâm sàng của bệnh võng mạc đái tháo đường.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh lý vi mạch do đái tháo đường bị ảnh hưởng bởi những thay đổi về chất lượng và số lượng của màng đáy mao mạch. Mặc dù những thay đổi về mô học và chức năng đi kèm với bệnh lý vi mạch do đái tháo đường đã được biết khá rõ [9], nhưng các cơ chế nội bào và ngoại bào cụ thể liên quan đến những thay đổi này dần dần dẫn đến rối loạn chức năng của bệnh võng mạc đái tháo đường vẫn chưa rõ ràng. Ức chế enzyme này có thể gây ra bệnh loãng xương [11], nhưng đồng thời, các loại tế bào khối u gây tăng lượng enzyme này có thể thúc đẩy sự di căn của khối u hiện có, khiến nó trở nên ác tính [12-13]. LOX được tổng hợp và tiết ra dưới dạng tiền enzyme glycosyl hóa (proLOX, 50 kDa), tiếp tục trải qua quá trình phân giải protein ngoại bào thành dạng trưởng thành (LOX 32 kDa) [14].

LOX trưởng thành một phần quay trở lại tế bào, một phần bám vào chất nền ngoại bào thực hiện chức năng sinh học. Enzym LOX xúc tác quá trình khử luan an 2 oxy hóa lượng peptidyllysine và hydroxylysine dư thừa trong tiền chất collagen và lượng lysine dư thừa trong elastin. Các aldehyd này trải qua các phản ứng tự ngưng tụ dẫn đến hình thành chất nền ngoại bào [14-15]. Vì vậy, LOX đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì tính ổn định và tính toàn vẹn của màng đáy.

LOX đã được xác định trong một số mô, bao gồm da, động mạch chủ, tim, phổi, gan, sụn, xương, thận, vú, võng mạc và não [16-18]. Có khá nhiều nghiên cứu về LOX tại tim, xương, vú, phổi,. đem lại những hiểu biết sâu hơn về cơ chế sinh bệnh và mở ra các hướng nghiên cứu biện pháp can thiệp hiệu quả. Nghiên cứu của Song và cộng sự chỉ ra rằng hàm lượng LOX tăng trong võng mạc của chuột đái tháo đường và điều hoà LOX giúp ngăn ngừa tổn thương võng mạc do đái tháo đường [19].

Ngoài ra, báo cáo gần đây cũng cho thấy LOX được điều hòa bởi các yếu tố gây thiếu oxy (HIFs), một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình tân mạch võng mạc trong bệnh võng mạc đái tháo đường [12]. Nghiên cứu mới đây trên mẫu dịch kính bệnh nhân mắc võng mạc đái tháo đường tăng sinh biểu hiện tăng đáng kể nồng độ LOX so với người không mắc bệnh đái tháo đường [20]. Tuy nhiên, cơ chế gây ra những rối loạn này cũng như những bất thường LOX ở cấp độ tế bào còn chưa rõ ràng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Nghiên cứu thay đổi Lysyl oxidase của tế bào nội mô mạch máu võng mạc ở môi trường nồng độ glucose cao" với 2 mục tiêu: 1.

Đánh giá thay đổi mức độ biểu hiện LOX của tế bào nội mô mạch máu võng mạc chuột trong môi trường nồng độ glucose cao. Phân tích sự thay đổi mức độ bám dính của LOX với protein chất nền ngoại bào tại tế bào nội mô mạch máu võng mạc chuột trong môi trường nồng độ glucose cao. luan an 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm mô học của mao mạch võng mạc Thành mao mạch võng mạc mỏng, từ trong ra ngoài gồm có lớp nội mô, màng đáy và tế bào quanh mạch.

Lớp nội mô Lớp nội mô là một hàng tế bào đa giác dẹt lợp mặt trong thành mao mạch. Phần bào tương chứa nhân lồi vào lòng mạch, phần bào tương ở ngoại vi tế bào toả thành lá mỏng. Các tế bào nội mô liên kết với nhau bởi mối liên kết khe. Dưới sinh hiển vi điện tử có thể thấy ở lá bào tương tế bào nội mô có những cửa sổ (lỗ nội mô), màng bào tương ở cả hai mặt tế bào có những vết lõm siêu vi, trong bào tương có những không bào vi ẩm.

Những bào quan như lưới nội bào, ti thể, ribosom nằm rải rác nhưng tập trung nhiều quanh nhân, bộ Golgi nhỏ, thường nằm sát nhân [6-21-23]. Cấu trúc mao mạch võng mạc [24] A. Thiết đồ cắt ngang luan an 4 1. Cấu trúc Màng đáy là lớp màng mỏng dày khoảng 50nm, nằm giữa lớp tế bào nội mô và tế bào ngoại mạch của mạch máu [25].

Màng đáy mạch máu chứa các protein chất nền ngoại bào được sắp xếp một cách có tổ chức để hình thành giá đỡ cho tế bào [25]. Màng đáy là nơi thực hiện nhiều chức năng quan trọng của tế bào do đó nó rất quan trọng với sự sống còn của tế bào và cân bằng nội môi võng mạc. Màng đáy mạch máu cung cấp môi trường vi mô, tại đó tín hiệu hai chiều thông qua các integrin điều chỉnh sự gắn kết và chức năng của tế bào. Chức năng chính của màng đáy là tạo bộ khung gắn kết tế bào [26], tạo điều kiện cho kết nối tế bào-tế bào [27], và điều khiển việc chữa lành vết thương [28].

Màng đáy có cấu trúc nhiều lớp tạo bởi rất nhiều thành phần trong đó các thành phần chính là collagen IV (Coll IV), fibronectin (FN), laminin và heparan sulfate proteoglycans được sắp xếp theo trình tự nghiêm ngặt để đảm bảo chức năng và tính toàn vẹn của màng đáy. Ở võng mạc, chất nền ngoại bào được sản xuất chủ yếu bởi các tế bào nội mô mạch máu và tế bào ngoại mạch [6-21-22]. Các loại tế bào khác cũng sản xuất một lượng nhỏ chất nền ngoại bào là tế bào Muller [29], tế bào hình sao [30], tế bào hạch [31] và các tế bào biểu mô võng mạc [32]. Bằng phương pháp đo lường siêu cấu trúc sử dụng sinh hiển vi điện tử cho thấy có sự khác nhau về độ dày màng đáy mạch máu giữa các mô (bảng 1) và giữa các lớp động vật (bảng 2).

Màng đáy bao gồm 2 vùng riêng biệt là lá sáng (lamina lucida) và lá đặc (lamina densa), nơi tiếp giáp phía trước với màng tế bào, phía sau liên tục với mô liên kết của chất nền ngoại bào [33]. luan an 5 Bảng 1. Độ dày màng đáy mạch máu ở các mô khác nhau trên cơ thể ngƣời [6] Loại mô Độ dày (nm) Tài liệu tham khảo Võng mạc 250-480 [34] Tiểu cầu thận 330±50 [35-36] Cơ xương 220 [37] Cơ tim 77±4 [38] Cơ tứ đầu đùi 108-246 [39] Bảng 1. Độ dày màng đáy mao mạch võng mạc ở các loài khác nhau [6] Loài Độ dày (nm) Tài liệu tham khảo Chuột nhắt 93±19 [40] Chuột cống 51-112 [41] Mèo 72±12 [42] Chó 90-140 [43] Người 250-450 [34] 1.

Thành phần Màng đáy bao gồm nhiều thành phần sắp xếp một cách có tổ chức. Một số thành phần chính tạo nên bộ khung của màng bao gồm Coll IV, FN, laminin và heparan sulfate proteoglycan. Ngoài ra màng cũng chứa các thành luan an 6 phần khác như nidogen, tenascin, perlecan, agrin collagen I, II, III và chondroitin sulfate proteoglycan [44-45]. Collagen IV là thành phần phong phú nhất trong chất nền ngoại bào, và chỉ được tìm thấy trong màng tế bào.

Coll IV có trọng lượng phân tử khoảng 500 kD với chiều dài trung bình 400 nm [46] và cấu trúc bộ ba xoắn ốc nguồn gốc từ 3 chuỗi α, bao gồm 2 chuỗi α1 giống hệt nhau và 1 chuỗi α2 [47]. Mỗi chuỗi chứa 3 vùng riêng biệt: đầu amino giàu cysteine và lysin, vùng amino axit với chuỗi Gly-X-Y lặp lại khoảng 1400 lần và đầu carboxyl chứa khoảng 230 amino axit [48]. Tổng thể cấu trúc của Coll IV sắp xếp dạng như mạng tinh thể được tổng hợp khi vùng gen khởi động tương tác với vị trí NC1 tại đầu tận carboxyl tạo nên các dimer [49]. Các dimer này sau đó được liên kết chéo với nhau tại vùng 7S nằm tại đầu tận amino [33].

Collagen có các vị trí kết dính tương tác trực tiếp với các intergrin α1β1 và α2β1 cho phép tế bào kết nối với màng tế bào và khởi động các tín hiệu tế bào [50]. Coll IV cũng tạo thành một giá đỡ để liên kết các thành phần chất nền ngoại bào khác [51]. Cấu trúc màng đáy mao mạch [24] luan an 7 Fibronectin, 1 glycoprotein lớn, là thành phần quan trọng của màng đáy được biết đến với khả năng hoạt động như một chất keo phân tử và duy trì cấu trúc phân tử ổn định của màng đáy. FN là một dimer bao gồm 2 tiểu đơn vị lớn, giống hệt nhau, mỗi đơn vị nặng khoảng 250 kD được liên kết cộng hoá trị thông qua liên kết disulfide ở đầu tận C [26-52-53].

Sau khi được tổng hợp, FN tập hợp thành 1 mạng lưới sợi phụ thuộc integrin [26], sử dụng vị trí RGD (Arg-Gly-Asp) bám vào vị trí α5β1 của integrin [52]. FN tạo điều kiện cho sự kết dính của tế bào, di chuyển, tăng trưởng tế bào và biệt hoá thông qua các tương tác đặc hiệu bao gồm các vị trí kết dính cho collagen, heparan và các proteoglycan khác. FN gắn kết các thành phần chất nền ngoại bào thành một cấu trúc có tổ chức, do đó đóng góp vào sự toàn vẹn và chức năng của chất nền ngoại bào [52-54]. Laminin là 1 glycoprotein không chứa collagen, được tìm thấy chủ yếu trong lớp lá sáng [55].

Laminin có trọng lượng phân tử khoảng 820 kD và chứa 3 chuỗi polypeptid: α, β, và γ. Cả 3 chuỗi đều chứa nhánh dài xoắn ốc (dài khoảng 75 nm), ngoài ra chuỗi α có thêm nhánh ngắn (dài khoảng 35 nm) [56]. Phần cơ bản của nhánh dài là miền G chứa các chuỗi tương tự yếu tố tăng trưởng biểu bì [56]. Chuỗi ba lần lặp đầu tiên, gọi là G1-3 chịu trách nhiệm kết dính với các integrin, trong khi chuỗi 2 lần lặp cuối cùng (ví dụ G4- 5) chịu trách nhiệm kết dính với các heparan [57].

Laminin tương tác với collagen IV bằng cách cùng bám dính vào nhiều thành phần khác của chất nền ngoại bào bao gồm FN và integrin [58].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án mang tiêu đề "Nghiên cứu thay đổi lysyl oxidase trong tế bào nội mô mạch máu võng mạc khi tiếp xúc với nồng độ glucose cao" của tác giả Nguyễn Ngân Hà, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Huy Thịnh và TS. Nguyễn Xuân Tịnh, được thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội vào năm 2020. Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu sự thay đổi của lysyl oxidase trong tế bào nội mô mạch máu võng mạc khi tiếp xúc với nồng độ glucose cao, một yếu tố quan trọng liên quan đến bệnh tiểu đường và các biến chứng của nó. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế sinh học mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc điều trị và phòng ngừa các bệnh lý liên quan đến tiểu đường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu gen tp53 và mdm2 trong ung thư tế bào gan nguyên phát, nơi cũng đề cập đến các cơ chế sinh học trong bệnh lý; Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học nhiễm H. pylori ở trẻ em và gia đình dân tộc Thái, Khơ Me, một nghiên cứu khác về dịch tễ học; và Nghiên cứu tác động của chất lượng dịch vụ đào tạo tới sự hài lòng của sinh viên các trường đại học tại Hà Nội, liên quan đến chất lượng dịch vụ trong giáo dục. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề trong lĩnh vực y học và giáo dục.