Chương 1 ;. MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE GIAO DICH BAO DAM VA NHAN DIEN GIAO DICH BAO DAM DAC THU 1. Một số van dé chung về giao dich bảo dam 1. Khái niệm về giao dịch bảo dam Trước hết, để có góc nhìn chính xác về giao dịch bảo đảm cần có cách hiểu thông nhất về các thuật ngữ liên quan đến vấn đề bảo đảm.
Bảo đảm theo nghĩa chung được hiểu theo nhiều phương diện khác nhau: “Bảo đảm có thể là sự cam kết của một bên đối với bên kia về sự chắc chắn đối với một van dé nhất định. Chẳng hạn: Bảo đảm chuyện tôi nói là sự thật, bảo đảm là tôi làm được việc đó. Với nghĩa này, bảo đảm chỉ đơn thuân là một lời khẳng định đơn phương của một bên nhưng sự chắc chắn về van dé mà người đó khang định hoàn toàn phụ thuộc vào chính họ. Trong hoàn cảnh khác, bảo đảm được hiểu là làm cho chắc chắn thực hiện được một việc nhất định hoặc có day đủ các điều kiện can thiết.
Chẳng hạn: Hiến pháp nước ta có nhiều quy định bảo đảm quyên tự do dân chủ của công dân. Diéu kiện vật chất ngày được nâng cao nên đời sống được bảo dam. Với nghĩa này, bao dam được hiểu là các điễu kiện tạo nên sự chắc chắc trong việc thực hiện một van đê nhát định. Mặt khác, bảo đảm còn được hiểu là một biện pháp tác động, làm cho một người buộc phải thực hiện một công việc nhất định, nếu không, phải chịu một hậu quả bất lợi.
Chẳng hạn, bên vi phạm hợp đồng phải chịu một khoản tiễn phạt nhất định. Bên vay phải giao cho bên cho vay một tài sản, bao giờ trả hết nợ thì được nhận lại tài sản đó ”l Xét theo góc độ là một sự bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ thì van đề bảo đảm chỉ liên quan đến bốn cụm từ: Biện pháp bảo đảm; hợp đồng bảo ! Chủ biên Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2015), Hoàn thiện chế định bảo dam thực hiện nghĩa vụ dân sự, Nxb Tư pháp, tr. đảm; giao dịch bảo đảm và quan hệ bảo đảm. Chúng ta vẫn thường gặp các thuật ngữ “biện pháp bảo đảm”, “giao dịch 39 66 bảo đảm”, “hợp đồng bảo đảm”, “quan hệ bảo đảm” là các thuật ngữ cùng chỉ về việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Vậy tại sao cùng một vấn đề lại có nhiều tên gọi khác nhau như vậy? Và trong đó, khi nào việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được gọi là giao dịch bảo đảm? Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ với góc độ là những quy định của pháp luật về các phương thức mà các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ được quyền lựa chọn và sử dụng nó như một biện pháp dé bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ. Ở góc độ này, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được gọi là biện pháp bảo đảm, bao gồm 9 biện pháp sau: Cầm cé tài sản; thé chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lưu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp và cầm giữ tài sản. Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được pháp luật quy định sẵn nhưng chắc chắn sẽ không được xác lập trong thực tế nếu như các chủ thé trong các quan hệ nghĩa vụ không lựa chọn sử dụng. Điều đó có nghĩa là việc bao đảm thực hiện nghĩa vụ bao giờ cũng được hình thành từ hành vi có ý chí của chủ thé nhất định và vì vậy, ở góc độ này thì bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được gọi là giao dịch bảo đảm.
Giao dịch bảo đảm có thể hình thành từ hành vi pháp lý đơn phương của một bên chủ thé (chang hạn như hành vi của bên bi vi phạm nghĩa vụ cầm giữ tài sản của bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ có đối tượng là tài sản bi cam giữ) nhưng cũng rất nhiều giao dich bảo đảm được hình thành bởi hành vi của cả hai bên trên cơ sở sự thoả thuận thống nhất ý chí giữa họ. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được hình thành trên cơ sở thoả thuận, thống nhất ý chí của các bên thì bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được gọi là hợp đồng bao đảm (chang hạn như hợp đồng cam cố tài sản, hợp đồng thé chap tài sản). Khi xác lập giao dịch bảo dam, chủ thé luôn hướng tới mục đích là qua 8 đó dé bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ nhất định, nghĩa là thời điểm giao dịch bảo đảm có hiệu lực pháp luật sẽ hình thành một quan hệ mà trong đó một bên phải bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trước bên kia là bên có quyên trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm. Quan hệ về quyền và nghĩa vu giữa các bên chủ thể được hình thành từ các giao dịch bảo đảm được gọi là quan hệ bảo đảm.
Từ việc xem xét các thuật ngữ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ ở các góc độ, hoàn cảnh khác nhau, có thể đưa ra khái niệm về giao dịch bảo đảm như sau: Giao dich bảo dam là hành vi pháp lý đơn phương của một bên chủ thể hoặc là sự thoả thuận giữa các bên chủ thể về việc xác lập quyên, nghĩa vụ của các bên trong việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Như vậy, giao dich bao đảm có thé là hành vi pháp ly đơn phương, có thé là hợp đồng nhưng đều làm hình thành quan hệ giữa hai bên, một bên được gọi là bên bảo đảm còn bên kia được gọi là bên nhận bảo đảm. Trong đó, bên bảo đảm là bên phải bằng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện một công việc để bảo đảm về việc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm. Bên nhận bảo đảm là bên có quyền được bảo đảm bằng sự cam kết của bên bảo đảm.
Đặc điểm của giao dịch bảo đảm Cũng như các giao dịch/hợp đồng nói chung, giao dịch bảo đảm đều được hình thành từ hành vi có ý chí của con người. Tuy nhiên, so với các giao dịch khác thì giao dịch bảo đảm có những đặc điểm riêng sau đây: - Luôn có mục đích là bảo đảm cho việc thực hiện cam kết giữa các bên Nếu như mục đích của các giao dịch/hợp đồng khác hướng tới sự trao đổi lợi ích vật chất thì giao dich bảo đảm chỉ có mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hoặc bảo đảm việc thực hiện các cam kêt khác giữa các bên. Khi một quan hệ nghĩa vụ được hình thành, các bên phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ thì quyền của bên kia bi ảnh hưởng. Đề buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đó, các bên thường sử dụng một biện pháp nhất định để qua đó, đối tượng của biện pháp này là cái mà thông qua đó có thể đảm bảo được lợi ích cho bên có quyền.
Chang hạn, dé bên vay phải trả nợ khi đến thời hạn, các bên thường sử dụng biện pháp cầm cô hoặc thế chấp tài sản. Thông qua biện pháp này, nếu bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ nợ vay thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản là đối tượng của cầm cô hoặc thế chấp để thu hồi nợ. Chính vì vậy, khi xác lập giao dịch bảo đảm, các bên thường hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao két hop đồng của cả hai bên.
Chang han nhu viéc dat coc buộc các bên phải giao kết hợp đồng như đã cam kết, hứa hen. Thông qua chức năng tác động, giao dịch bảo đảm nâng cao ý thức thực hiện nghĩa vụ. Khi người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn thì giao dịch bảo đảm phát huy chức năng dự phòng và chức năng khắc phục hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ. Gia tri của các tài sản bảo đảm được dùng dé thay thé cho phan nghĩa vụ bị vi phạm và khắc phục các thiệt hại xảy ra từ sự vi phạm nghĩa vụ đó.
- Chỉ hình thành cùng với một hợp đông hoặc cam kết khác Với mục đích, chức năng là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên các giao dịch bảo đảm không tồn tại độc lập mà luôn gan liền với một hợp đồng hoặc một cam kết khác dé bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng hoặc cam kết đó. Đặc điểm này thé hiện ở việc chỉ khi nào có quan hệ nghĩa vụ hình thành hoặc giữa các bên có một cam kết nhất định thì các bên mới cùng nhau xác lập một giao dịch bảo đảm. Chăng hạn, các bên chỉ xác lập với 10 nhau một hợp đồng cầm có tài sản hoặc hợp đồng thế chấp tài sản khi hợp đồng vay tài sản đã được xác lập. Hoặc, chỉ xác lập một hợp đồng đặt cọc trong trường hợp các bên đã có cam kết với nhau về việc sẽ giao kết hoặc thực hiện một hợp đồng mua bán tài sản.
Nghĩa là, việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập. Nội dung, hiệu lực của giao dịch bảo đảm phù hợp và phụ thuộc vào nội dung của nghĩa vụ được bảo đảm hoặc cam kết giữa hai bên. - Giao dịch bảo đảm hình thành thông qua hành vi của chủ thé Có nhiều sự kiện là căn cứ làm phát sinh quan hệ dân sự nói chung nhưng các quan hệ bảo đảm chỉ hình thành khi chủ thể thực hiện một hành vi nhất định. Đặc điểm này cho thấy dù các biện pháp bảo đảm đã được luật quy định, thậm chí có những biện pháp mang tính bắt buộc nhưng nếu các chủ thé không xác lập và sử dụng nó dé bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, cam kết của mình thì giao dịch bảo đảm không hình thành trong thực té.
Chang han, mac dù luật đã có quy định về biện pháp đặt cọc để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng nhưng giả sử rằng các bên luôn tin tưởng nhau về sự hứa hẹn, cam kết nên không sử dụng đặt cọc thì giao dịch đặt cọc sẽ không thê hình thành. Phân loại giao dịch bao dam Giao dịch bảo đảm có thé được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau nhưng mục đích của luận văn này khi phân loại giao dich bảo đảm là nhằm tạo cơ sở dé nhận biết trong các loại giao dịch bảo đảm thì giao dịch nào là giao dịch bảo đảm đặc thù.