Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu. Xác định lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu chung, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Bao gồm các khái niệm nghiên cứu, mô hình lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố tác động đến lòng trung thành khách hàng.
4 Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Bao gồm quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đo lường các khái niệm nghiên cứu, mẫu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Bao gồm các nội dung mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích mô hình các yếu tố tác động đến lòng trung thành khách hàng với dịch vụ ngân hàng.
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Bao gồm kết luận, các hàm ý quản trị nhằm duy trì và nâng cao lòng trung thành khách hàng với dịch vụ ngân hàng. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số khái niệm nghiên cứu 2.1 Lòng trung thành khách hàng Có ba phương pháp tiếp cận chính để nghiên cứu sự trung thành của các khách hàng: phương pháp tiếp cận hành vi, phương pháp tiếp cận thái độ và phương pháp tiếp cận tổng hợp (Oh, 1995). Lòng trung thành khách hàng hay hành vi sau khi mua là một giai đoạn quan trọng trong chu trình hành vi tiêu dùng của khách hàng, là phản ứng tiếp tục sử dung, ủng hộ, hoặc vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ sau khi tiêu dùng.
Hành vi trung thành thường thường thể hiện ở số lượng hàng mua, tần suất những lần mua hàng và việc chuyển sử dụng thương hiệu (Kotler & Armstrong, 2011). Lòng trung thành được định nghĩa như là một cam kết sâu sắc sẽ mua lại sản phẩm, dịch vụ của tổ chức, sự cam kết của khách hàng sẽ mua lại sản phẩm hoặc dịch vụ ưa thích, sẽ ưu tiên tìm mua sản phẩm của một thương hiệu nào đó trong tương lai (Lưu Tiến Dũng và cộng sự, 2014). Thái độ trung thành là tổng hợp các sở thích và quyền ưu tiên mua hàng của khách hàng để quyết định mức độ lòng trung thành. Khách hàng trung thành về mặt thái độ thường ít khi chấp nhận các thông tin tiêu cực về thương hiệu hơn là các khách hàng khác, ít có động cơ tìm kiếm dịch vụ thay thế khác thậm chi ngay cả khi họ rất thất vọng về nhà cung cấp hiện tại, và có xu hướng quảng cáo bằng miệng nhanh và tích cực những đặc tính tốt nhất của dịch vụ, sử dụng các dịch vụ bổ sung và chấp nhận các mức giá phù hợp (Egan, 2004).
Theo cách tiếp cận tổng hợp, Caruana (2002) chỉ ra rằng khách hàng trung thành có thể hiểu là khách hàng thực hiện hành vi mua từ một nhà cung cấp lặp đi lặp lại nhiều lần, có thái độ tích cực đối với nhà cung cấp và chỉ nghĩ đến nhà cung cấp khi có phát sinh nhu cầu cho dịch vụ này. Lòng trung thành khách hàng được định nghĩa như sự ủng hộ của người tiêu dùng đối với thương hiệu của doanh nghiệp ngay cả khi họ có sử dụng hay không sử dụng sản phẩm (Luu Tien Dung, 2019). Với dịch vụ tài chính ngân hàng thì lòng trung thành của khách hàng phụ thuộc nhiều hơn vào sự phát triển của mối quan hệ giữa các cá nhân với các sản phẩm dịch vụ vô hình của ngân hàng (Jones & Taylor, 2007). 6 Kathleen Khirallah (2005) cho rằng với dịch vụ ngân hàng, lòng trung thành của khách hàng thể hiện khi họ đã lựa chọn giao dịch với một ngân hàng, họ sẽ tiếp tục giao dịch với ngân hàng đó, sẽ khuyến cáo người khác sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đó và khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ khác, họ sẽ coi ngân hàng là lựa chọn đầu tiên dù biết có thể có lựa chọn tốt hơn tương đối ở một ngân hàng khác về tiện ích hay giá cả dịch vụ.
Lòng trung thành hành vi thường được thể hiện ở phương thức tiếp cận về hành vi dựa trên hành vi mua lại trong tương lai, số lượng và tần suất mua lại; sự thay đổi thương hiệu trong mỗi lần mua. Lòng trung thành của khách hàng là một tài sản của ngân hàng. Khi khách hàng trung thành họ sẽ tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng và họ có thể giới thiệu sản phẩm cho các khách hàng tiềm năng. và khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ khác, họ sẽ nghĩ đến ngân hàng đó đầu tiên mặc dù biết có thể có lựa chọn tốt hơn tương đối ở một ngân hàng khác về tiện ích hay giá cả dịch vụ.2 Chất lượng dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngânhàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàngtrên thị trường tài chính.
Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về vốn, tiền tệ, thanh toán mà ngân hàng cung cấp cho kháchhàng đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, cất trữ tài sản… và ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân hàng được coi là một siêu thị dịch vụ, một bách hóa tài chính với hàng trăm thậm chí hàng ngàn dịch vụ khác nhau tùy theo cách phân loại và tùy theo trình độ phát triển của ngân hàng. Chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh. Chất lượng dịch vụ được xem là phương thức tiếp cận quan trọng trong quản lý kinh doanh nhằm đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, đồng thời giúp tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả của ngành (Arun Kumar và cộng sự, 2012).
Chất lượng dịch vụ là kết quả đánh giá của khách hàng dựa trên những tiêu chí thông qua kinh nghiệm và mong đợi của họ và những ảnh hưởng từ hình ảnh của doanh nghiệp. Đặc điểm vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu giữ được của dịch vụ gây khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dịch vụ Do đó, việc nhận 7 diện các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ là cần thiết để xác định, đo lường, kiểm soát và cải thiện cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ(Caruana, 2000). Chất lượng dịch vụ là mức độ một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự kỳ vọng của khách hàng. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.
Theo Kotler và Armstrong (2011) chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ bền tổng thể, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác để thực hiện các chức năng của nó. Cronin và cộng sự (2000) thì cho rằng chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đo bằng các chức năng của nó và không cần thiết để đánh giá mong đợi của khách hàng, chất lượng dịch vụ chỉ có thể được đo bằng cảm nhận mà không cần có bất kỳ liên quan nào với kỳ vọng. Ngoài ra, do môi trường văn hóa khác nhau, người tiêu dùng ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có nhận thức khác nhau về chất lượng dịch vụ ở mỗi loại hình dịch vụ khác nhau. Chất lượng dịch vụ ngân hàng là khả năng đáp ứng dịch vụ đối với sự mong đợi của khách hàng, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh.
Các ngân hàng phải luôn nâng cao chất lượng, đổi mới dịch vụ cũng như cần phát triển chiến lược mới để đáp ứng khách hàng, đặc biệt là cung cấp dịch vụ chất lượng để đạt được lợi thế cạnh tranh hơn đối thủ. Việc nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ là cần thiết để xác định, đo lường, kiểm soát và cải thiện cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ. Mô hình BANKSERV được phát triển bởi Avkiran (1994) và chuyển thể từ SERVQUAL của parasuraman nhằm phù hợp với ngành ngân hàng. 17 nhân tố của chất lượng dịch vụ trong mô hình BANKSERV phân loại theo 4 nhóm: (i) Nhân viên: Nói lên thái độ, đáp ứng và sự sẵn sàng phục vụ của nhân viên tới khách hàng; (ii) Tin cậy: Phản ánh mức độ tin cậy của khách hàng với ngân hàng trong giao dịch và bảo mật; (iii) Thông tin: Thực hiện nhu cầu của khách hàng bằng cách tư vấn tài chính và phục vụ thông báo kịp thời; (iv) Dịch vụ quầy: Ngân hàng có đủ số lượng nhân viên giao dịch để phục vụ khách hàng trong suốt giờ làm việc và trong giờ cao điểm.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng như Nguyễn Minh Loan (2018), Nguyễn Thị An Bình (2016), Lưu Tiến Dũng, Trần Thị Bích Ngọc và Đinh Thị 8 Hoà(2014) đo lường thông qua các thành phần gồm cảm nhận nhân viên, cảm nhận tiện ích, cảm nhận tin cậy, cảm nhận thông tin, cảm nhận dịch vụ quầy.3 Sự hài lòng khách hàng Theo Oliver (1993) sự hài lòng là phản ứng của người tiêu dùng đối với việc được đáp ứng những mong muốn. Định nghĩa này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính là sự hài lòng của người tiêu dùng trong việc tiêu dùng sản phẩm hoặc dịch vụ do nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn. Theo Kotler và Armstrong (2011) sự hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm/dịch vụ với những kỳ vọng của người đó. Kỳ vọng ở đây được xem là ước mong hay mong đợi của con người.
Nó bắt nguồn từ nhu cầu cá nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, thông tin truyền miệng của bạn bè, gia đình. Như vậy, mức độ thỏa mãn là hàm của sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng. Khách hàng có thể có cảm nhận một trong ba mức độ thỏa mãn sau: Nếu kết quả thực hiện kém hơn so với kỳ vọng thì khách hàng sẽ không hài lòng; nếu kết quả thực hiện tương xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng; nếu kết quả thực tế vượt quá sự mong đợi thì khách hàng rất hài lòng và thích thú.