CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÍ LUẬN VÈ LÒNG TRUNG THÀNH CỦA NHÂN VIÊN 1. Khái niệm về lòng trung thành Theo nghiên cứu cùa Allen và Meyer (1990), lòng trung thành được hiểu là một trạng thái tinh thần của cá nhân, bao gồm 3 thành phần chính: cam kết ảnh hường, cam kết tiếp tục và cam kết chuấn mực. Cam kết về ảnh hưởng: Là một loại cam kết dựa trên tình cảm, trong đó cá nhân cảm thấy một mức độ cao của sự kết nối tích cực và lòng yêu mến với tổ chức. Cam kết ảnh hưởng thường dựa trên sự hài lòng với tổ chức, cảm giác thú vị và phát triển trong công việc, cũng như mối quan hệ tích cực với đồng nghiệp và quản lý.
Cam kết tiếp tục: Là loại cam kết dựa trên sự nhận thức về các chi phí hoặc tổn thất mà cá nhân sẽ phải chịu nếu họ rời bỏ to chức. Điều này có thế bao gồm các yếu tố như sự mất mát về thời gian, tiền bạc hoặc các cơ hội phát then trong tương lai. Cam kết chuẩn mực: Được hiểu là cam kết dựa trên các giá trị cá nhân và đạo đức, trong đó cá nhân cảm thấy một trách nhiệm đạo đức hoặc một nghĩa vụ xã hội để tiếp tục làm việc cho tổ chức. Cam kết này thường phản ánh sự đồng thuận với mục tiêu và giá trị của tổ chức.
Trong nghiên cứu của Rhoades, Eisenberger và Armeli (2001), khái niệm về lòng trung thành được đo lường thông qua khía cạnh cam kết cảm xúc (affective commitment). Cam kết cảm xúc là một khía cạnh của lòng trung thành mà người lao động cảm thấy liên quan đến tổ chức của mình với một mức độ tích cực và sâu sắc. Cụ the, trong nghiên cứu này, lòng trung thành được đo lường dựa trên sự cam kết cảm xúc của nhân viên đối với tố chức, tức là mức 16 độ mà họ cảm nhận mình kết nối với tổ chức, tin tưởng vào mục tiêu và giá trị của tổ chức, và mong muốn duy trì mối quan hệ với tổ chức. Khái niệm này được hiểu là một tình trạng tâm lý của nhân viên, trong đó họ có một cảm giác sâu sắc và tích cực đối với tổ chức mà họ làm việc, thế hiện qua sự cam kết và trách nhiệm đối với tổ chức đó.
Điều này có thể dẫn đến sự hỗ trợ, lòng trung thành và hiệu suất làm việc tích cực từ phía nhân viên. Trong nghiên cứu của Mathieu và Zajac (1990), lòng trung thành được hiểu là một khái niệm phức tạp bao gồm các yếu tố như cam kết (commitment) và sự hài lòng (satisfaction). Cụ thể, lòng trung thành trong nghiên cứu này thường được hiểu theo hai khía cạnh. Sự cam kết: Là mức độ mà nhân viên cam kết và gắn bó với tổ chức hoặc công ty mà họ làm việc.
Cam kết này có thế phản ánh sự chung thủy, sự tận tụy và sự ổn định trong mối quan hệ lao động. Đây là một yếu tố quan trọng trong lòng trung thành vì những người cam kết cao thường sẽ có xu hướng ở lại và cống hiến cho tố chức hơn Sự hài lòng: Là mức độ hài lòng của nhân viên đối với công việc, môi trường làm việc và các yếu tố khác liên quan đến công việc. Sự hài lòng này có ảnh hưởng đến mức độ tự giác, sự hứng thú và cam kết của nhân viên đối với tổ chức 1. Thuyết nhu cầu Maslow Maslow (1943) đề xuất một lý thuyết về nhu cầu con người dựa trên một thang đo hiệu suất, với nhu cầu cơ bản nhất ở mức dưới cùng và nhu cầu cao hơn ờ mức trên cùng.
Với năm mức nhu cầu chính đó là: Nhu cầu vật lý: Đây là nhu cầu cơ bản nhất của con người bao gồm thức ăn, nước uống, không khí, giấc ngủ và các nhu cầu sinh tồn khác. Maslow lưu ý rằng nếu những nhu cầu này không được đáp ứng, hệ thống cơ thể sẽ phát triển các phản ứng để đảm bảo sự sống. 17 Nhu cầu an toàn: Sau khi nhu cầu vật lý được đáp ứng, con người cảm thấy cần sự an toàn và bảo vệ. Điều này bao gồm sự an toàn về mặt vật lý cũng như cảm giác an toàn trong môi trường xã hội.
Nhu cầu tình thân: Mức này bao gồm nhu cầu về tinh yêu, sự kết nối và cảm giác thuộc về trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè và cộng đồng. Nhu cầu công nhận: Nhu cầu ở mức này liên quan đến sự tự trọng, tự tin và mong muốn được công nhận và tôn trọng bởi người khác. Điều này có thế bao gồm cả cảm giác tự hào về bản thân và sự đánh giá từ cộng đồng Nhu cầu tự thực hiện: Đây là mức nhu cầu cao nhất, trong đó con người cảm thấy hài lòng với bản thân, phát triển tiềm năng cá nhân và theo đuổi mục tiêu cá nhân và sự thực hiện tối đa của bản thân. Maslow cho rằng nhu cầu ở mức càng cao thì càng quan trọng hơn so với những nhu cầu ở mức thấp hơn đã được đáp ứng.
Điều này gợi ý rằng con người có xu hướng tiến trien theo một hành trình từ các nhu cầu cơ bản đến nhừng nhu cầu cao hơn trong quá trình phát triển cá nhân. Thuyết ERG của Clayton Alderfer So với thuyết của Maslow thì thuyết ERG cho rằng các nhu cầu không được xếp theo một thứ tự cố định như trong lý thuyết nhu cầu của Maslow. Trong nghiên cứu của Clayton Alderfer (1969), một người có thế cảm thấy cần đến nhiều loại nhu cầu cùng một lúc và có thể di chuyển giữa các loại nhu cầu này tùy thuộc vào hoàn cảnh và trạng thái cá nhân của họ. Alderfer đã đề xuất rằng nhu cầu của con người có thế được nhóm lại thành 3 loại chính: + Nhu cầu tồn tại: Bao gồm các nhu cầu vật chất cơ bản như thức ăn, nước uống, áo quần và môi trường làm việc an toàn.
Đây là nhu cầu cơ bản nhất và cần thiết để duy trì sự tồn tại của cá nhân. + Nhu cầu quan hệ: Bao gồm các nhu cầu liên quan đến mối quan hệ xã hội, tương tác và gắn kết với người khác. Đây là nhu cầu về mối quan hệ và sự kết nối với cộng đồng xung quanh. 18 + Nhu cầu phát triến: Bao gồm các nhu cầu liên quan đến sự phát triến cá nhân, tự thực hiện và khám phá tiềm năng của bản thân.
Đây là nhu cầu về sự tiến bộ, tự do sáng tạo và cống hiến cho một mục tiêu cao hơn. Thuyết hai nhân tố của F. Herzberg Nghiên cứu của Herzberg (1959) cho rằng để tạo ra sự hài lòng và động viên trong công việc, càn phải tập trung vào cả hai loại yếu tổ. Tuy nhiên, để tạo ra động lực lâu dài, quan trọng nhất là cần tạo ra những điều kiện đế nhân viên có the đạt được sự tự thỏa mãn và phát triến cá nhân thông qua công việc của mình.
Òng đưa ra hai loại yếu tố chính ảnh hưởng đến cảm nhận cùa người lao động về công việc của họ. Yeu tố động lực: Đây là nhừng yếu tố nội tại của công việc, như sự công nhận, tiến bộ nghề nghiệp, trách nhiệm, cơ hội phát triển, và tự chủ. Herzberg cho rằng những yếu tố này là nguồn động lực chủ yếu, khiến người lao động cảm thấy hài lòng và muốn làm việc tốt. Yeu tố hấp dẫn: Đây là những yếu tố bên ngoài của công việc, chang hạn như môi trường làm việc, chế độ làm việc, quan hệ với cấp trên, lương thương và chính sách tố chức.
Mặc dù không tạo ra động lực tích cực, nhưng khi không đáp ứng, những yếu tố này có thể gây ra sự không hài lòng và lo lắng. Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom Theo thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1960) sự động viên của một cá nhân đe thực hiện một nhiệm vụ phụ thuộc vào ba yếu tố chính: + Kỳ vọng: Đây là kỳ vọng của cá nhân về khả năng của mình để hoàn thành công việc và đạt được kết quả mong muon. Neu một nhân viên tin rằng nỗ lực của họ sẽ dẫn đến hiệu suất làm việc cao, họ sẽ cảm thấy động viên đế cố gắng 19 + Giá trị: Đây là giá trị mà cá nhân gán cho các kết quả hoặc phần thưởng mà họ có thế nhận được từ việc hoàn thành công việc. Neu cá nhân đánh giá cao các kết quả hoặc phần thưởng, họ sẽ cảm thấy động viên hơn đế nồ lực + Hồi quy: Đây là kỳ vọng của cá nhân về mối quan hệ giừa việc hoàn thành một nhiệm vụ và việc nhận được phần thường hoặc kết quả mong đợi.
Nếu cá nhân tin rằng việc hoàn thành nhiệm vụ sẽ dẫn đến các kết quả mong muốn, họ sẽ cảm thấy động lực để làm việc 1.6 Thuyết công bằng của Adams Theo thuyết công bằng của John Stacy Adams vào năm 1960: Sự hài lòng của nhân viên đối với công việc của họ không chỉ phụ thuộc vào mức độ đáp ứng của nhu cầu hay mức độ chất lượng của công việc, mà còn phụ thuộc vào cảm giác về công bằng trong quá trình làm việc. Thuyết công bằng của Adams bao gom ba loại công bằng chính: + Công bằng trong tỷ lệ: Đây là cảm giác của cá nhân về sự công bằng của kết quả hoặc phần thưởng mà họ nhận được so với nỗ lực mà họ đã đầu tư và so sánh với những người khác. Neu một nhân viên cảm thấy rằng họ đã làm việc chăm chỉ và đóng góp nhiều nhưng lại không nhận được phần thưởng hoặc đối xử công bằng so với những người khác, họ sẽ cảm thấy không công bằng + Công bằng quy trình: Đây là cảm giác của cá nhân về sự công bằng của quy trình hoặc phương pháp được sử dụng để ra quyết định và phân phối phần thưởng. Neu quy trình được thực hiện một cách công bằng, minh bạch và có tính công lý, nhân viên sẽ cảm thấy hài lòng hơn, ngay cả khi kết quả không như mong đợi + Công bằng xã hội: Đây là cảm giác của cá nhân về sự công bằng của cách mà họ được đối xử và giao tiếp trong quá trình làm việc.