CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm và quan niệm 1. Đánh giá giáo dục Từ cuối thế kỷ 19, khái niệm Đánh giá giáo dục đã phát triển mạnh mẽ ở các nước phương Tây.
Đã có rất nhiều nghiên cứu cũng như cách tiếp cận khác nhau về khái niệm này. Một trong những định nghĩa được đánh giá là đã khái quát khá đầy đủ về khái niệm này là: “Đánh giá trong giáo dục được định nghĩa là quá trình thu thập thông tin để đưa ra những quyết định giáo dục liên quan tới học sinh, để phản hồi cho học sinh về sự tiến bộ, những điểm mạnh và điểm tồn tại trong học tập của chúng, để đưa ra phán quyết về hiệu quả của công tác giảng dạy và sự phù hợp của chương trình đào tạo, và cuối cùng là để cung cấp thông tin xây dựng chính sách.”(AFT, NCME, NEA, 1990:1) Như vậy, có thể thấy, mục tiêu chính của đánh giá giáo dục là dựa trên các thông tin thu thập được để đưa ra những quyết định liên quan tới giảng dạy, chương trình học và các chính sách giáo dục nhằm phát triển khả năng học tập của học sinh. Hiện nay, trên thế giới, không chỉ có các chương trình đánh giá chất lượng học tập của học sinh, mà còn có các chương trình đánh giá những đối tượng khác trong môi trường học tập, ví dụ: chương trình TALIS nhằm đánh giá chất lượng của giáo viên/hiệu trưởng nhà trường. Những chương trình này đánh giá trực tiếp các đối tượng liên quan đến học sinh, chứ không thông qua việc đánh giá học sinh.
Nhờ vậy giúp các nhà đánh giá có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về môi trường giáo dục, ví dụ như chất lượng giảng dạy của giáo viên, kinh nghiệm quản lý của điều kiện cơ sở vật chất, sự phù hợp của các chương trình học. Trong tiếng Anh, khi nhắc tới Đánh giá giáo dục, người ta thường dùng 4 thuật ngữ quan trọng: Test (Kiểm tra), Measurement (Đo lường), Assessment (Đánh giá) và Evaluation (Định giá). 13 Ở Việt Nam, thường có sự đánh đồng giữa các thuật ngữ trên.Với nhiều người, các thuật ngữ này đều là chỉ sự đánh giá. Trên thực tế, mỗi thuật ngữ này đều sử dụng hình thức test (kiểm tra, bài kiểm tra) nhưng không từ nào đồng nghĩa với testing (trắc nghiệm) cả, và các bài kiểm tra trong 3 quy trình này có thể khác nhau.
Cụ thể: - Thuật ngữ Test (Kiểm tra): kiểm tra chính là một hoạt động đánh giá. Kiểm tra là hoạt động đo lường nhằm thu được các kết quả, các nhận xét, phán quyết dựa vào các thông tin thu được theo công cụ đã chuẩn bị trước với mục đích xác định xem cái gì đã đạt được, cái gì chưa đạt được, những nguyên nhân…. - Thuật ngữ Measurement (Đo lường): đây là một hoạt động của đánh giá định lượng. Đo lường (Measurement) là việc gán các con số cho các đặc điểm (lượng hóa) nhằm đánh giá được cá nhân.
- Thuật ngữ Assessment (Đánh giá): đánh giá (assessment) trong giáo dục là quá trình mô tả đối tượng thông qua các thông tin thu thập được, bao gồm các loại thông tin định tính, thông tin định lượng. Đối tượng được đánh giá có thể là học sinh, giáo viên hoặc hiệu trưởng. Cách thức thu thập thông tin hết sức đa dạng, không chỉ giới hạn trong việc đo lường (measurement) hay kiểm tra (test). - Thuật ngữ Evaluation (Định giá): đây chính là quy trình hoàn thiện, bổ sung bước cuối cùng cho đánh giá (assessement), người đánh giá sẽ đưa ra những nhận định/quyết định thông qua những đánh giá đã được thực hiện.
Từ khi ra đời đến nay, đánh giá giáo dục đã trải quả rất nhiều xu hướng đánh giá. Nhưng các chuyên gia đã tóm gọn trong 3 xu hướng chính: Đánh giá để phát triển học tập hay đánh giá vì sự tiến bộ của người học (assessment for learning), Đánh giá về kết quả học tập (assessment of learning), Đánh giá là một quá trình học/ đánh giá là hoạt động học tập (assessment as learning). Như chúng ta đã biết, đánh giá giáo dục giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chiến lược và hoạt động nhằm khuyến khích việc học tập của học 14 sinh. Ban đầu, các nhà giáo dục nghĩ rằng việc đánh giá nên tiến hành khi kết thúc giai đoạn học tập, nhưng trên thực tế, việc đánh giá nên được tiến hành xuyên suốt quá trình học tập của học sinh.
Khi các nhà giáo dục xác định được nội dung cần giảng dạy cho học sinh, họ sẽ xác định được cần đánh giá việc học tập như thế nào, vào thời điểm nào. Tùy theo ý định sử dụng và các nhiệm vụ được giao mà các nhà giáo dục sẽ sử dụng đánh giá về kết quả học tập, đánh giá để phát triển học tập hay đánh giá như quá trình học tập. Đánh giá để phát triển học tập hay đánh giá vì sự tiến bộ của người học (Assessment FOR learning) thường được biết tới như một đánh giá quá trình và đánh giá chẩn đoán. Đánh giá vì sự tiến bộ của người học sử dụng một nhiệm vụ hoặc một hoạt động với mục đích xác định sự tiến bộ của học sinh trong một bài học hoặc một hoạt động hướng dẫn.
Giáo viên có thể tự điều chỉnh các chỉ dẫn trên lớp học dựa vào nhu cầu của học sinh. Tương tự, học sinh sẽ nhận được nhận xét về việc học của mình. Đánh giá về kết quả học tập(Assessment OF learning) sử dụng một nhiệm vụ hoặc một hoạt động để đo lường, ghi chép và báo cáo kết quả học sinh đạt được có liên quan đến một mức kì vọng nhất định. Những đánh giá này được biết đến dưới hình thức đánh giá tổng kết.
Đánh giá là quá trình học tập (Assessment AS learning) sử dụng một nhiệm vụ hoặc một hoạt động cho phép học sinh có cơ hội sử dụng (kết quả) của đợt đánh giá để phục vụ cho việc học tập sau này. Tự đánh giá hoặc đánh giá chéo giúp học sinh tự phản ánh và tìm ra điểm mạnh và yếu trong việc học tập của bản thân. Những nhiệm vụ này tạo cơ hội cho học sinh tự đề ra mục tiêu cá nhân và tự thúc đẩy bản thân học tập. Dựa theo từng quan điểm mà người ta phân loại ra các loại hình đánh giá.
Ví dụ: Xét theo quy mô sẽ phân ra hai loại: Đánh giá trên diện rộng (Large-Scale Assessment) và Đánh giá trên lớp học (Clasroom Assessment). Xét theo quá trình 15 học tập sẽ có 3 loại đánh giá tương ứng với 3 giai đoạn đầu vào, quá trình học tập và đầu ra của quá trình, là: Đánh giá sơ khởi (Placement Assessment), Đánh giá trong tiến trình (Formative Assessment), Đánh giá tổng kết (Summative Assessment). Xét theo chuẩn tương đối của nhóm người cùng được đánh giá và chuẩn về mức độ thành thạo đáp ứng chuẩn mực mong đợi thì đánh giá trong giáo dục được chia thành các loại là Đánh giá dựa theo chuẩn (norm-referenced assessment) và đánh giá dựa theo tiêu chí (criterion-referenced assessment)…. Thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực học sinh Hiện nay, bên cạnh việc đánhh giá kiến thức, kỹ năng của người học, nhà trường và giáo viên cũng dần chú trọng tới việc đánh giá năng lực của người học.
Năm 2014, Vụ Giáo dục Trung học - Bộ GD&ĐT đã cho triển khai Tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường trung học phổ thông. Trong các đợt tập huấn, sự khác nhau giữa đánh giá kiến thức, kỹ năng và đánh giá theo năng lực đã được nhấn mạnh. Khác với đánh giá kiến thức, kỹ năng lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá, đánh giá kết quả học tập theo năng lực chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. “Đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa”.
Theo Tài liệu tập huấn của Vụ Giáo dục Trung học - Bộ GD&ĐT, có thể phân biệt giữa đánh giá năng lực và Đánh giá kiến thức, kỹ năng của người học dựa trên một số tiêu chí như sau: Bảng 1. Các tiêu chí đánh giá Tiêu chí Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kỹ năng so sánh 1. Mục Đánh giá khả năng HS vận dụng Xác định việc đạt kiến đích chủ các kiến thức, kỹ năng đã học vào giải thức, kỹ năng theo mục tiêu yếu nhất quyết vấn đề thực tiễn của cuộc sống. của chương trình giáo dục.
Vì sự tiến bộ của người học so với Đánh giá, xếp hạng 16 chính họ. giữa những người học với nhau. Ngữ Gắn với ngữ cảnh học tập và thực tiễn Gắn với nội dung học tập cảnh đánh cuộc sống của HS. (những kiến thức, kỹ năng, giá thái độ) được học trong nhà trường.
Nội Những kiến thức, kỹ năng, thái độ Những kiến thức, kỹ dung ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo năng, thái độ ở một môn học. đánh giá dục và những trải nghiệm của bản thân Quy chuẩn theo việc HS trong cuộc sống xã hội (tập trung người học có đạt được hay vào năng lực thực hiện). không một nội dung đã được Quy chuẩn theo các mức độ phát học. triển năng lực của người học.
Công Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ cụ đánh bối cảnh thực. trong tình huống hàn lâm giá hoặc tình huống thực. Thời Đánh giá mọi thời điểm của quá trình Thường diễn ra ở những điểm dạy học, chú trọng đến đánh giá trong thời điểm nhất định trong quá đánh giá khi học. trình dạy học, đặc biệt là trước và sau khi dạy.
Kết Năng lực người học phụ thuộc vào Năng lực người học quả đánh độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập đã phụ thuộc vào số lượng câu giá hoàn thành. hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã Thực hiện được nhiệm vụ càng hoàn thành. khó, càng phức tạp hơn sẽ được coi là có Càng đạt được nhiều năng lực cao hơn. đơn vị kiến thức, kỹ năng thì càng được coi là có năng lực cao hơn.
(Nguồn: Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong trường trung học phổ thông, Vụ Giáo dục Trung học – Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014) Việc thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực học sinh vẫn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định trong quy trình thiết kế câu hỏi, đề thi nói chung.