mở đầu cho một khuynh hướng mới trong logic học mà 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Epiquya sẽ tiếp tục sau này. Khuynh hướng Democrit - Epiquya xét theo những vấn đề cơ bản là tiền đề cho logic quy nạp của Ph. Mill thời hiện đại. Một số vấn đề được Democrit xây dựng cũng đã được Aristotle tiếp nhận trong các tác phẩm “Các phạm trù” [50], “Phân tích học thứ nhất” [59], “Siêu hình học” [72] và “Topics” [70].
Tuy nhiên, lượng thông tin ít ỏi còn lại đến ngày nay về logic học Democrit, không cho phép nói về ảnh hưởng của các tư tưởng logic học Democrit đối với Aristotle. Giống như những nhà ngụy biện, Xocrat (469-399 TCN) cũng quan tâm đến vấn đề con người, những vấn đề đạo đức, xã hội…Nhưng khác với chủ nghĩa tương đối cực đoan của những nhà ngụy biện, ông bảo vệ quan điểm cho rằng chân lý khách quan được thể hiện trong những khái niệm chung. Xocrat quan tâm nhiều đến vấn đề phương pháp, ông nói một câu nổi tiếng: “Tôi biết rằng tôi không biết gì cả” [46, tr. 184], điều đó nói rằng ông không tin mình lĩnh hội được tri thức chân thực, mà tin rằng ông có thể lĩnh hội được phương pháp mà nhờ đó ông có thể có được tri thức chân thực.
Vậy đó là phương pháp gì? Xocrat cho rằng bất kỳ đối tượng nào cũng có thể được nhận thức chỉ khi có thể quy nó về một khái niệm chung và tìm hiểu nó trên cơ sở của khái niệm chung này. Xocrat đã xây dựng phương pháp quy nạp và định nghĩa khái niệm. Aristotle trong “Siêu hình học” đã nói rằng Xocrat là một trong những người đầu tiên đưa ra phương pháp quy nạp: suy luận đi từ những sự vật đơn nhất đến hình thành những khái niệm chung. Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa tương đối cực đoan và chủ nghĩa chủ quan của những nhà ngụy biện, Xocrat đã tìm thấy chỗ dựa của mình trong những “khái niệm nói chung” và theo ông những khái niệm đó vĩnh viễn không thay đổi với tất cả mọi người.
Nhờ phép quy nạp Xocrat hình thành khái niệm chung. Xocrat xuất phát từ những biểu tượng thông thường nhất của con người, từ những sự kiện trong cuộc sống hàng ngày. Bằng quy nạp có thể vạch ra cái gì thuộc bản chất của đối tượng 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cần bàn, cái gì không phải; và bằng cách đó, từ các biểu tượng và các thông số do nhận thức cảm tính cung cấp mà hình thành nên các khái niệm. Quy nạp tạo thành cơ sở cho định nghĩa khái niệm.
Hai thủ pháp này trong logic học Xocrat liên quan mật thiết với nhau. Từ định nghĩa khái niệm rút ra việc phân tích các sự vật theo giống. Nghệ thuật tranh luận (hay hùng biện) của Xocrat phục vụ cho mục đích này. Xocrat thường đòi hỏi người tranh luận với mình cần phải định nghĩa, ví dụ: công bằng là gì? dũng cảm là gì? cái đẹp là gì?,.
với tư cách là câu trả lời, ông nhận được định nghĩa khái niệm sơ bộ. Ông cần kiểm tra tính đúng đắn của các định nghĩa đó dựa vào những trường hợp cụ thể trong đời sống hàng ngày và kết quả thường là phải hiệu chỉnh các khái niệm. Các định nghĩa mới nhận được lại phải tiếp tục kiểm tra ở những trường hợp khác,… cứ như vậy tiếp diễn cho đến hoàn thiện. Những ví dụ tuyệt vời của việc sử dụng phương pháp này là những “đối thoại Xocrat” do Platon viết ở giai đoạn đầu khi còn đứng trên quan điểm của thầy mình là Xocrat.
Kể cả những đối thoại của Xocrat được Kxenofon ghi lại trong tác phẩm của mình. Ví dụ, Kxenofon trình bày đối thoại của Xocrat trong đó có định nghĩa khái niệm công bằng. Đầu tiên, người ta coi lừa dối, làm điều ác,… là những hành vi không công bằng. Sau đó người ta nhận ra rằng những hành vi này nếu được sử dụng trong chiến tranh với kẻ thù, thì không phải là “không công bằng”.
Do đó, định nghĩa ban đầu cần được hạn chế: các hành vi đó chỉ là không công bằng trong quan hệ với bạn bè, người thân. Tiếp tục suy nghĩ ta thấy rằng, cả định nghĩa mới được hiệu chỉnh cũng vẫn chưa đúng, vì nếu lừa dối đứa con đang ốm của mình để bắt nó uống thuốc, hay giành kiếm từ tay người bạn khi bạn mình đang muốn tự sát,…thì lại là những hành vi không phải là không công bằng. Do đó, chỉ có thể gọi một hành vi nào đó là không công bằng khi hành vi đó chống lại bạn bè, người thân, hay với mục đích làm hại bạn bè, người thân. Nếu quan điểm xuyên suốt của Protagor là: “Con người là thước đo của tất cả mọi vật” thì Xocrat cho rằng: chân lý phải có đặc điểm phổ biến và tất yếu, nếu là tri thức thuộc lĩnh vực đạo đức thì nó phải có đặc điểm toàn nhân loại.
Nhận thức chung nhất mang tính toàn nhân loại của tất cả mọi người, được Xocrat hiểu như là 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức cái chung trong khái niệm. Ngoài Platon, Xocrat còn có bốn học trò, sau đó bốn học trò này thành lập bốn trường phái khác nhau: Ơcơlid, Phedon, Antisfon và Aristip. Ở đây chúng ta chỉ xem xét một trong bốn trường phái này. Ơcơlit thành lập trường phái Megar- phát triển quan điểm Xocrat về nhận thức chân thực như là nhận thức cái chung trong khái niệm.
Những người theo trường phái Megar cho rằng: những cái được phân biệt theo khái niệm và theo định nghĩa, thì cũng được phân biệt về mặt hiện thực. Họ chứng minh rằng thực chất phán đoán “S là P” là tương đương với “A là không A”, do đó họ suy diễn: bất kỳ khái niệm nào trong phán đoán cũng không phải là chính nó. Do vậy, nếu suy rộng ra thì có nghĩa là: Tất cả là tất cả! Tức là họ cũng giống như các nhà ngụy biện: phủ nhận phán đoán. Trong “Bác bỏ thuật ngụy biện”, Aristotle đã dẫn ra một suy luận (sai) như sau: “Ko-rik là người.
Người là một cái gì đó khác hẳn với Ko-rik. Do đó, Ko- rik là một cái gì đó khác hẳn với Ko-rik” [xem 32]. Mục đích của suy luận ngụy biện này là muốn chứng minh tính không có căn cứ của mọi phán đoán, suy luận logic nói chung. Những người theo phái Megar trong khi tranh luận với các trường phái khác thường tấn công không phải vào tiền đề, mà vào kết luận trong những lập luận của phái đối lập và thường dùng phép chứng minh bằng phản chứng (deductio ad absurdum - đưa về điều phi lý); một số nghịch lý nổi tiếng như: “nói dối”, “có sừng”, “hói”,…là do trường phái Megar đưa ra.
Diodor Kron (người thuộc phái Megar) đưa ra luận cứ phủ nhận vận động, như sau: “Nếu một vật nào đó vận động, thì nó phải nằm trong phần không gian mà nó đang có ở đó, hoặc phần không gian mà nó chưa có ở đó. Nhưng ở phần không gian đầu thì không có vận động, vì phần không gian đó vừa khít với vật đó, ở phần không gian thứ hai (mà nó không có ở đó) thì dĩ nhiên là không có vận động…”. Do đó, ông đi đến kết luận rằng nói chung là không có vận động. Chúng ta dễ nhận thấy sự giống nhau giữa lập luận của Diodor với các nghịch lý của Zenon về vận động.
Vấn đề ở đây cần nhắc lại là, không thể áp dụng các quy luật của logic hình thức 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào việc lý giải các hiện tượng, quá trình của hiện thực khách quan như nó vốn có (tức các quá trình biện chứng). Cũng bằng những thủ pháp lập luận như vậy, Diodor chứng minh cho vấn đề: “Không thể chết”, “Không thể phá được bức tường”… Các tư tưởng của phái ngụy biện Megar có những đóng góp nhất định vào sự hình thành, phát triển của tri thức logic học, đặc biệt, thông qua các nghịch lý, nó kích thích tư duy khám phá, tìm ra những quy luật, quy tắc đúng cho lập luận, góp phần dần hình thành đối tượng của logic hình thức như một khoa học độc lập về tư duy. Trong logic học, Platon đã bàn đến nhiều vấn đề như phép chia khái niệm, định nghĩa khái niệm, quy nạp,…và ông đề cập đến cả phương pháp “biện chứng”. Khái niệm “biện chứng” của Platon không phải như ngày nay chúng ta vẫn dùng như là đối lập với siêu hình - mà đó là phương pháp “đối thoại” để tìm ra tri thức đúng.
Thủ pháp đi dần đến cái chung của Platon là sự phát triển tiếp tục phương pháp quy nạp của Xocrat. Khái niệm, theo Platon, cần phải chỉ ra được cái cơ bản trong sự vật. Bản chất của sự vật là ở cái chung mà ở đó, tất cả các sự vật thuộc cùng một giống phù hợp với nhau, quy tụ lại. Platon cũng đề cập đến thủ pháp “định nghĩa khái niệm”, và cũng giống như Xocrat, Platon sử dụng phương pháp đưa ra các ví dụ.
Theo Platon, để tránh các lỗi không đầy đủ, phiến diện của định nghĩa, cần đưa ra các ví dụ đa dạng, thậm chí đối lập nhau để tìm ra cái chung; và quá trình đó được tiến hành từ từ. Như vậy, quy nạp và định nghĩa, theo Platon, có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nhưng phép quy nạp của Platon, xuất phát từ quan điểm duy tâm khách quan - học thuyết về ý niệm, khác hẳn phép quy nạp dựa theo quan niệm chung ngày nay của chúng ta. Cái chung, theo Platon, không phải được khái quát từ những trường hợp cụ thể, đơn nhất bằng nhận thức kinh nghiệm; mà kinh nghiệm cảm tính chỉ là phương tiện để đánh thức linh hồn hồi tưởng lại các ý niệm đã có từ trước.
Platon đưa ra các quy tắc phân chia khái niệm sau: để cho phép chia thực hiện được đúng, không nên đưa ra những sự phân biệt tuỳ tiện, mà cần tìm những sự 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau trong chính sự vật. Cần biết phân chia những khái niệm giống, và để làm được điều đó, cần tuân thủ hai điều kiện: 1) chia theo những sự khác nhau về chất; 2) không bỏ qua các bậc trung gian. Nhiệm vụ, mục đích của phân chia khái niệm là: tìm toàn bộ ngoại diên của khái niệm giống và xây dựng một hệ thống các khái niệm. Về quy luật phi mâu thuẫn.
Platon đã sử dụng quy luật phi mâu thuẫn như là một chuẩn mực của tư duy. Ông hiểu quy luật này theo nghĩa: bất kỳ sự vật xác định nào cũng không thể trong cùng một thời gian và cùng một mối quan hệ lại có những tính chất đối lập nhau.