ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (NKĐSDD) ở phụ nữ là tình trạng viêm nhiễm các bộ phận của cơ quan sinh dục dưới ngoài phúc mạc như âm hộ, âm đạo, cổ tử cung… NKĐSDD hay gặp ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ và gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới sức khỏe sinh sản, lao động và chất lượng cuộc sống của phụ nữ. Một trong những hậu quả nguy hiểm của NKĐSDD là có thể dẫn tới vô sinh, sảy thai, đẻ non, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh làm cho người phụ nữ mất đi thiên chức làm mẹ. Hơn nữa, bệnh lâu ngày dẫn đến nhiễm khuẩn vùng tiểu khung, viêm tử cung, viêm phần phụ mạn tính… thậm chí dẫn đến ung thư cổ tử cung (1). Theo ước tính của cơ quan phòng chống bệnh AIDS của Liên hiệp quốc, hàng năm có khoảng 390 triệu người mắc bệnh LTQĐTD trong đó, có hơn 340 triệu trường hợp mắc mới.
Tỷ lệ mới mắc cao ở châu Phi, Mỹ La Tinh và Caribe, Đông Nam Á, cao nhất là ở cận sa mạc Shahara - Châu Phi. Tại Bắc Mỹ, trong nhiều năm nay số trường hợp mắc mới NKĐSDD không thay đổi, thậm chí còn tăng lên ở nhóm trẻ, nhóm thu nhập thấp, nhóm người đồng bào dân tộc thiểu số (2). Tại Việt Nam, tình trạng NKĐSDD còn khá phổ biến, tỷ lệ mắc dao động trong khoảng 40% - 64% phụ nữ tuổi sinh đẻ (1). Điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển là mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, vệ sinh không đúng cách khi có kinh nguyệt, không vệ sinh trước và sau khi giao hợp.
Ngoài ra, các nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam đều cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành của bản thân người phụ nữ cũng như người chồng về phòng ngừa NKĐSDD chưa tốt là lý do quan trọng của tình trạng này (3, 4). Huyện Gò Công Tây nằm ở phía Đông tỉnh Tiền Giang gồm 01 thị trấn và 12 xã. Hàng năm, TTYT huyện tổ chức khám và điều trị NKĐSDD cho phụ nữ15-49 tuổi có chồng tại 13 Trạm y tế xã, thị trấn. Điều đáng quan tâm ở đây là tỷ lệ NKĐSDD hàng năm không giảm và ở mức khá cao, trung bình từ 68-70% (5).
Trong đó, Long Bình là xã có tỷ lệ mắc bệnh NKĐSDD cao nhất huyện, chiếm tỷ lệ 79% trên số phụ nữ đến khám (5). Mặc dù, TYT xã đã thường xuyên thực hiện các hoạt động truyền thông cung cấp kiến thức về phòng ngừa NKĐSDD cho người dân nhưng kiến thức, thái độ, thực hành của phụ nữ về phòng ngừa NKĐSDD vẫn còn hạn chế (6). 2 Trước tình hình trên, nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng ngừa NKĐSDD và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ 15-49 tuổi tại xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang năm 2020” được tiến hành nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phòng ngừa NKĐSDD đồng thời phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa NKĐSDD, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện tình trạng NKĐSDD tại địa bàn xã Long Bình nói riêng và huyện Gò Công Tây nói chung. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng ngừa nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 15-49 tuổi tại xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang năm 2020. Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa NKĐSDD ở phụ nữ 15-49 tuổi tại xã Long Bình, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Nhiễm khuẩn đường sinh dục Nhiễm khuẩn đường sinh dục là các nhiễm khuẩn tại cơ quan sinh dục, bao gồm cả viêm nhiễm do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm khác không lây qua quan hệ tình dục; thường gặp nhất sau sẩy thai, nạo phá thai và sinh đẻ hoặc do các nguyên nhân khác (7).
Nhiễm khuẩn đường sinh dục trên Bao gồm nhiễm khuẩn ở vòi trứng, buồng trứng và tử cung. Đây có thể là do biến chứng từ nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới không được điều trị kịp thời hoặc không đúng đúng phác đồ (7). Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới: bao gồm viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung và viêm tuyến sinh dục. Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới chiếm 80-90% tổng số các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục.
Đây là loại viêm nhiễm hở, chẩn đoán và điều trị kịp thời đạt kết quả tốt (1). Nhiễm khuẩn nội sinh Là tình trạng tăng sinh quá mức các vi sinh vật có trong âm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn và viêm âm hộ - âm đạo do nấm men (7). Nhiễm khuẩn ngoại sinh Do các can thiệp y tế như phá thai, đặt dụng cụ tử cung hay do kiểm soát nhiễm khuẩn kém (7). Khí hư Là dịch trắng như sữa, trong, hơi đặc ở cổ tử cung và âm đạo.
Bình thường, khí hư có ít, không chảy ra ngoài âm hộ, không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của người 5 phụ nữ. Khi khí hư nhiều, chảy ra ngoài âm hộ làm người phụ nữ khó chịu là bất thường. Nếu khí hư đục, có mùi hôi thường là do NKĐSDD (8). Hội chứng tiết dịch âm đạo là một hội chứng lâm sàng thường gặp mà người bệnh than phiền là có dịch âm đạo (khí hư) và kèm theo một số triệu chứng khác như ngứa, đau rát ở vùng sinh dục, tiểu khó, đau khi giao hợp… và nếu không điều trị có thể gây biến chứng như viêm tiểu khung, vô sinh, thai ngoài tử cung… Mọi trường hợp viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm âm hộ-viêm âm đạo và viêm cổ tử cung đều đưa đến tiết dịch âm đạo (9).
Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị và phòng bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới Nguyên nhân Viêm âm hộ nguyên nhân thường là do vi khuẩn từ đường tiêu hóa, tiết niệu lan sang như Coli, tụ cầu, liên cầu, hoặc do vi khuẩn lậu. Nguyên nhân viêm âm đạo cũng có rất nhiều nguyên nhân, có thể do nấm, do vi khuẩn hoặc do trùng roi (Trichomonas vaginalis) (10). Triệu chứng Triệu chứng của nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới chủ yếu là ra khí hư bất thường. Ngoài ra, triệu chứng có thể gặp là đau bụng, ngứa, đau rát ở bộ phận sinh dục, ra máu bất thường đặc biệt là sau giao hợp (10).
Viêm âm hộ: Âm hộ ngứa, đỏ, xung huyết, phù nề, loét hoặc vết trắng âm hộ, có thể thấy mủ màu xanh, màu vàng chảy ra từ các lỗ của tuyến Bartholin, tuyến Skene (10). Viêm âm đạo: Có nhiều nguyên nhân gây viêm âm đạo, có thể do trùng roi (Trichomonas vaginalis). Nguyên nhân chủ yếu của Viêm âm đạo là do các bệnh lây truyền qua quan hệ tình dục, ngoài ra bệnh có thể lây qua ngâm hoặc giặt chung quần áo với người bị bệnh, lây qua khăn tắm ẩm ướt, bồn tắm. Người bị viêm âm đạo có khí hư nhiều, loãng, có bọt như bọt xà phòng màu vàng xanh, có mùi hôi (mùi hôi không mất đi khi rửa); có thể kèm theo đi tiểu khó, ngứa và đau khi QHTD (10).
6 Viêm âm đạo do nấm chủ yếu là Candida albicaris, người bệnh thường rất ngứa ở âm hộ nên phải gãi làm xây xước âm hộ và nấm có thể làm lan rộng ra cả tầng sinh môn, vùng đùi, vùng bẹn. Khí hư có màu trắng đục như váng sữa, không hôi, số lượng nhiều có thể kèm theo đi tiểu khó, đau khi giao hợp (10). Viêm âm đạo do vi khuẩn thường là viêm âm đạo không đặc hiệu do các vi khuẩn kỵ khí nội sinh tăng sinh tại âm đạo. Triệu chứng của bệnh là ra khí hư nhiều, mùi hôi hoặc ít nhưng không có biểu hiện đau, không có viêm âm hộ, đối với viêm âm đạo do vi khuẩn là bệnh không phải lây truyền qua quan hệ tình dục nên không cần điều trị cho chồng hoặc bạn tình (10).
Viêm cổ tử cung - lộ tuyến cổ tử cung: Viêm cổ tử cung gồm có thể cấp tính hay các vi khuẩn khác từ âm đạo lây lan lên nhưng hay gặp nhất là viêm cổ tử cung mạn tính phối hợp với lộ tuyến CTC, bên cạnh đó có thể có các biểu hiện cấp tính như tiểu buốt, mủ chảy ra từ lỗ niệu đạo, lỗ CTC. Mủ có màu vàng đặc hoặc vàng xanh, đau bụng dưới và đau khi giao hợp. Khám thấy CTC phù nề, đỏ, chạm vào dễ chảy máu, mủ chảy ra từ ống CTC và có thể thấy lỗ niệu đạo đỏ, mủ từ trong chảy ra hoặc có khi chỉ có dịch đục; lộ tuyến là một tổn thương lành tính của CTC, nhưng lộ tuyến sẽ nặng hơn nếu phối hợp với viêm cổ tử cung (10). Điều trị và phòng bệnh Điều trị Đa số các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới có thể điều trị khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm, điều trị bằng các loại thuốc bôi tại chỗ hoặc uống kháng sinh.
Những trường hợp mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, trừ HIV/AIDS đã có các thuốc đặc trị và nếu được phát hiện điều trị sớm cùng với việc tuân thủ điều trị và điều trị cả chồng (bạn tình), hầu hết người bệnh được chữa khỏi hoàn toàn. Trong điều trị vấn đề quan trọng nhất là bệnh nhân được phát hiện sớm và tuân thủ điều trị đủ liều ngay cả khi các triệu chứng lâm sàng đã được cải thiện. Theo dõi, tái khám lại cũng rất quan trọng nhằm kiểm soát vấn đề tái mắc bệnh (10). 7 Để chẩn đoán và điều trị cho chồng (bạn tình) là một nguyên tắc trong phác đồ điều trị NKĐSDD ngay cả khi chồng (bạn tình) không có triệu chứng bệnh (10).
Phòng bệnh NKĐSDD là bệnh khá phổ biến, ở nam và nữ đều có thể xảy ra, bệnh không những ảnh hưởng đến sức khỏe về mặt thể lực mà còn ảnh hưởng đến tâm lý gây ảnh hưởng đến đời sống của các cặp vợ chồng. Do đó cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là rất cần thiết nhằm nâng cao sức khỏe và chất lượng sống của phụ nữ nói riêng và cộng đồng nói chung. Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng các nhiều phương pháp phòng bệnh đơn giản, hiệu quả. Thực hiện đúng cách vệ sinh cá nhân hàng ngày, vệ sinh khi QHTD, vệ sinh kinh nguyệt… đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phòng bệnh là những khuyến nghị đơn giản mà ai cũng có thể làm được.
Sống chung thủy một vợ một chồng làm giảm nguy cơ gây rối loạn môi trường âm đạo cũng như lây nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn.