CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE KHOI KIEN VỤ AN DAN SỰ 1. KHAI NIEM, DAC DIEM VA Y NGHIA CUA KHOI KIEN VU AN DAN SU 1. Khái niệm khởi kiện vụ an dan sự Khởi kiện vụ án dân sự có thê hiểu dưới góc độ là một quyền tố tụng hoặc một hành vi tố tụng. Nếu xét dưới góc độ là quyền thì quyền khởi kiện của các chủ thể phải được bảo đảm thực hiện bởi hệ thống cơ quan tư pháp, trong đó có Tòa án.
Tòa án phải tạo điều kiện và bảo đảm cho đương sự thực hiện được quyền khởi kiện của mình. Nếu xét khởi kiện dưới góc độ là hành vi tố tụng của chủ thé có quyền lợi hoặc chủ thé được pháp luật trao quyền khởi kiện thì hành vi này cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện, trình tự thủ tục, thời hạn và Tòa án là cơ quan có thắm quyền xem xét yêu cầu các chủ thé phải thực hiện theo các quy định này. Trong xã hội có Nhà nước thì quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đã được pháp luật ghi nhận và chủ thé cho răng quyền, lợi ích hợp pháp của minh bị xâm phạm có quyền khởi kiện yêu cầu cơ quan có thâm quyền do Nhà nước quy định bảo vệ quyên, lợi hợp pháp của mình. Cổ luật La Mã đã ghi nhận quyền khởi kiện của công dân La Mã, theo đó, người có quyên lợi bị xâm phạm có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
Người bi vi phạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó. Trong xã hội ngày nay, khởi kiện là một trong những nhóm quyền tố tụng thuộc quyền con người. Theo Điều § Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 thì “Mọi người đều có quyên được bảo vệ bằng các Tòa án quốc gia có thẩm quyên với phương tiện pháp ly có hiệu lực chống lại những hành vi vi phạm các quyên căn bản đã được Hiến pháp và pháp luật công nhận ”. Ở Việt Nam, về phương diện lý luận, TS.
Hoàng Ngọc Thỉnh đã khăng định trong Giáo trình Luật tố tụng dân của trường Đại học Luật Hà Nội 1994 rằng “Quyên khởi kiện vu án dân sự là quyên to tụng của công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cau Tòa an nhán dán bao vệ các quyên lợi hợp pháp cua mình, cua ' Trần Anh Tuan (2008), “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng `, Tạp chi Toà án nhân dan, (23), tr. tập thể của Nhà nước hay của người khác dang bị tranh chấp hoặc vi phạm”". Tiếp theo đó, TS. Hoàng Ngọc Thinh cho rang “Quyển khởi kiện vụ án dân sự là quyên to tụng quan trọng của các chủ thể.
Việc thực hiện quyên này của các chủ thé được goi là khởi kiện vụ án dân sự” và “Khởi kiện vụ an dán sự là việc ca nhân, cơ quan, tô chức hoặc các chủ thé khác theo quy định của pháp luật tô tụng dân sự nộp don yêu cẩu Tòa án có thẩm quyên bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của minh hay của người khác” >. Theo đó, khởi kiện vụ án dân sự là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thé khác tham gia vào quan hệ pháp luật tô tụng dân sự, là cơ sở làm phát sinh quan hệ pháp luật tổ tung dân sự. Phan Chí Hiếu cho rằng “quyên khởi kiện vụ án dân sự là quyên tô tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thé khác theo quy định của pháp luật tô tụng dân sự yêu câu Tòa án bảo vệ các quyên, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi pham’”. Theo kết quả nghiên cứu trên thì bản chất của khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi khi quyền lợi này bị tranh chấp hay vi phạm.
Khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn và theo nghĩa rộng thì khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn, quyền và quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyên lợi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do họ đã không thực hiện quyền yêu cầu của mình trước khi nguyên đơn khởi kiện vu án. Nguyễn Công Bình “7rong vu dn dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyên và nghĩa vụ liên quan tham gia tô tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên don và bị đơn. Thông thường người có quyên và nghĩa vụ liên quan tham gia tô tụng độc lập có đủ điều kiện pháp lý khởi kiện vụ an dân sự nhưng do vụ án dán sự đã xuất hiện giữa nguyên don và bị don nên họ phải tham gia tô tụng dé bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của mình nếu không việc bảo vệ quyên và lợi ích của họ sau đó sẽ gặp khó khan” Ÿ. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, các văn bản khác đã cụ thể hoá và ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự.
Cụ thé là quyền khởi kiện được ghi nhận trong các văn bản pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Trước khi Bộ luật tố tụng dân ' Phan Hữu Thư (1994), Giáo trình luật tổ tụng dân sự, Đại học Luật HàNội giữ bản quyền, tr. Nguyễn Công Binh (2014), Giáo trình luật t6 tung dan sự, Nxb Cong an nhân dan, Hà Nội, tr. Phan Hữu Thư, TS.
Lê Thu Hà (2007), Giáo trình luật tổ tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. Nguyễn Công Binh (2014), Giáo trình luật tổ tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời thi quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rất rộng. Theo đó, quyền khởi kiện được hiểu là khả năng Nhà nước cho phép công dân được yêu cầu Tòa án có thâm quyền bảo vệ quyên lợi hợp pháp của mình khi cho rằng quyền lợi hợp pháp đó bị xâm phạm hoặc yêu cầu Tòa án công nhận một sự kiện pháp lý, các quyền dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về xác định thâm quyền xét xử về dân sự và thương sự của Toà án sơ cấp, Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và t6 tụng. thuật ngữ vu kiện dan sự được sử dung dé chỉ những tranh chấp dân sự có yêu câu Toà án giải quyết. Đến năm 1959, khi mà Hiến pháp 1959 ra đời, thuật ngữ vu kién trước đây được thay thế bằng thuật ngữ v dn, cụ thé theo Điều 1 Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định “Toà án nhân dân xét xử những vụ an hình sự và dán sự. Khai niệm vụ an dân sự ở đây được dùng dé chỉ những vụ kiện dân sự và cả những việc dân sự đặc biệt — bao gồm cả những việc trong đó có tranh chap hay không có tranh chấp về quyên và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Theo ba Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì khi các đương sự có nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động dé giải quyết theo thủ tục tố tụng thì tất cả các vụ việc, tranh chấp hay không tranh chấp vẫn được gọi chung là vu án. Theo BLTTDS 2004, thì có hai loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có tranh chấp và thủ tục giải quyết việc dân sự không có tranh chấp. Theo đó, lần đầu tiên khái niệm vụ việc dân sự và việc dân sự đã được BLTTDS ghi nhận chính thức. Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái niệm vu dn dân sự trước đây, nếu các cá nhân, cơ quan tô chức có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ thì gọi là vụ án dân sự, nếu cơ quan cá nhân tô chức không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự thì là việc dân sự.
Vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mai và lao động. Theo BLTTDS 2004, BLTTDS sửa đôi năm 2011 thì khởi kiện được hiểu theo nghĩa hẹp hơn trước đây. Theo đó, khởi kiện là thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hay tranh chấp trong vụ án dân sự. Còn yêu cau là thực hiện quyền của chủ thé trong việc yêu câu Tòa án xem xét vê việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động không có tranh chấp.
Theo quy định tại Điều 14 Hiến pháp 2013 thì “Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyên con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyên công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Trong đó quyền dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Khi quyền và lợi ích của chủ thé bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là khởi kiện VADS. Về nguyên tắc, chỉ có chủ thể có quyền lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình như cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tô hợp tác và các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định các trường hợp khởi kiện vụ án dân sự dé bảo vệ quyền va lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Điều 162 BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã ghi nhận những chủ thể có quyền khởi kiện mặc dù không có quyền lợi tranh chấp hay vi phạm. Theo đó, Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định.