đặt vấn đề, mô hình toán học đã xây dựng, các thuật toán đã sử dụng, kết quả thu được. e Khả năng 2 : Mô hình và kết quả không phù hợp với thực tế. Lúc này phải tìm nguyên nhân. Có thể đặt ra những câu hỏi sau : Các kết quả tính ở bước thứ ba có đủ độ chính xác không ? Để trả lời, người ta phải kiểm tra lại các thuật toán, các quy trình, các tính toán đã sử dụng.
Ở đây, người ta tạm chấp nhận rằng mô hình toán học (và cũng có nghĩa là mô hình định tính) xây dựng như vậy là thỏa đáng. Mô hình toán học xây dựng như thế đã thỏa đáng chưa ? Nếu chưa thì phải xây dựng lại. Với loại câu hỏi này, ta tạm chấp nhận mô hình định tính đã xây dựng, nhưng phải xem xét lại mô hình toán học đã lựa chọn. Mô hình định tính xây dựng có phản ánh được đầy đủ hiện tượng thực tế không ? Nêu không thì cân phải rà soát lại bước một xem có yêu tô, qui luật nào bị bỏ sót không.
Các số liệu ban đầu (các thông số, hệ số) có phản ánh đúng thực tế không ? Nếu không thì phải điều chỉnh lại một cách nghiêm túc và chính xác. (Tham khảo Bùi Thế Tâm, Trần Vũ Thiệu, 1998, tr.7, 8, 9) Hai câu hỏi cuối đặt ra cho mô hình định tính đã được xây dựng. Mô hình định tính được một số tác giả, ví dụ như L. Coulange, gọi là mô hình phỏng thực tiễn.
Kết hợp giữa sơ đồ do L. Coulange (1997) đề nghị và những giải thích ở trên, ta có thể mô tả quá trình mô hình hóa qua sơ đồ sau : Phạm vi ngoài toán học Câu hỏi trên hệ thống hay tình huông ngoài toán học Câu trả lời cho Vấn đề thực tiễ (Vân đề thực tiện) bài toán thực tiễn` (0| ‡® ay Câu trả lời cho + \\ Bai toán Phỏng thực tiễn bài toán phỏng thực tiên Phạm vi phỏng (4) Mô hình định tính (4) thực tiễn / 2| ‡@ Bài toán toản học Câu trả lời cho bài toán toán học (3) Giải Mô hình toán học Phạm vi toán học Như thế, mô hình hóa toán học là quá trình cấu trúc lại vấn đề thực tế nhờ những khái niệm toán học được lựa chọn một cách phù hợp, thông qua việc xây dựng mô hình ox phỏng thực tế băng cách “cắt tỉa” — hay ngược lại, bổ sung thực tế - để có thé gan van đề ban đầu với các quy trình toán học. Trong bước tìm kiếm mô hình phỏng thực tế này người ta thường phải thực hiện những việc như đặt giả thuyết, tổng quát hóa, hình thức hóa,. Bài toán toán học cuối cùng được xây dựng phải đại diện trung thực cho bối cảnh thực tế.
e Trở lại với bài toán nêu trong ví dụ l ở trên. Bat dau bang mot van dé thuc té: Đặt cây đèn ở chỗ nào trong công viên? Xây dựng mô hình phỏng thực tiễn : Công viên có thê được thê hiện như là một tam giác. Vùng chiếu sáng của đèn là một hình tròn mà điểm đặt cột đèn là tâm. Vấn đề là phải đặt cây đèn sao cho toàn bộ tam giác nằm trong hình tròn.
Chuyển về bài toán toán học : xác định tâm của đường tròn ngoại tiếp tam giác. Dùng kiến thức tâm về tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác các đường trung trực dé giải bài toán : dựng hai đường trung trực của hai cạnh tam giác. Giao điểm của hai đường trung trực là tâm của đường tròn. Liên hệ kết quả này với công viên thực tế.
Chăng hạn, nêu một trong ba góc của công viên là tù, thì lời giải này không hợp lý vì cây đèn sẽ nằm ra ngoài công viên. Nếu ba góc của tam giác đều nhọn thì vẫn còn phải biết bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác có vượt quá bán kính chiếu sáng của đèn không. Như vậy là cần phải biết hình dạng, các kích thước của tam giác và bán kính chiếu sáng của đèn. Tìm hiểu những thông tin bổ sung này rồi lại chuyển về bài toán toán hoc.
e Đối với tình huống Trò chơi hội chợ, làm thế nào dé giải quyết ? Trước hết, cần phải nhận ra rằng xác suất để thắng phụ thuộc vào nhiều yếu tố : khoảng cách từ chỗ đứng ném đến bảng ô vuông, số ô vuông của bảng, kích cỡ tương ứng của các ô vuông và đồng xu,. Kế đến, để chuyên dịch vấn đề thực tế thành bài toán, phải hiểu yếu tố đầu tiên cần xét đến là mối quan hệ giữa một hình vuông và một hình tròn nhỏ hơn (cắt gọt bớt thực tế). Lúc đó, kích thước các hình này là quan trọng và ta giả định là đã biết (bồ sung thông tin). Gia sử bán kính của đồng xu là 3cm và cạnh của hình vuông là 10cm.
Để thắng, tâm của đồng xu phải cách mỗi cạnh ít nhất 3cm - nếu không thì cạnh của hình vuông sẽ cắt đồng xu. Muốn thế thì tâm của đồng xu 10cm không thể nằm ngoài hình vuông đồng tâm với hình vuông lớn và có cạnh bằng ⁄2 oy) » , " : \ : } 3 3 4 Ạ (khoảngang cách 8 giữa hai cạnh q song g son. song ANE —À, Thủy / gan nhat cua hai hình vuông là 3). Trở lại với thực tê : xác suât trên chưa tính đên các yêu tô như sô ô vuông của bảng, khoảng cách từ chỗ đứng ném đến bảng,.
Muốn trả lời câu hỏi thì phải thực hiện một số lớn lần thực nghiệm và quan sát tần suất thắng cuộc. DH mô hình hóa và DH bằng mô hình hóa Đề nâng cao năng lực hiểu biết toán cho HS, không thê coi nhẹ việc DH cách thức xây dựng mô hình toán hoc dé giải quyết một vấn đề nào đó do thực tiễn đặt ra. Đối với các nhà toán học, mô hình ấy thường là chưa tồn tại, hoặc đã tồn tại nhưng không cho phép giải quyết mọi trường hợp, hay ngược lại, không mang đến lời giải tối ưu cho một lớp các trường hợp đặc biệt nào đó. Việc tìm ra mô hình mới của họ thường dẫn đến một phát minh mới (một khái niệm, một định lý mới).
Đối với GV, mô hình ấy đã tồn tại. Điều đó dẫn đến chỗ việc DH có thê được tổ chức theo hai tiến trình: - Trình bày tri thức toán học lý thuyết (giới thiệu định nghĩa khái niệm hay định lý, công thức) -> Vận dụng tri thức vào việc giải quyết các bài toán thực tiễn, ở đó phải xây dựng mô hình toán học. - Xuất phát từ một vấn đề thực tiễn > Xây dựng mô hình toán học —> Câu trả lời cho bài toán thực tiễn —> Thê chế hóa tri thức cần giảng dạy bằng cách nêu định nghĩa hay định lý, công thức —> Vận dụng vào giải các bài toán thực tiễn khác mà tri thức đó cho phép xây dựng một mô hình toán học phù hợp. Tiến trình DH thứ nhất, gọi là DH mô hình hóa, tiết kiệm được thời gian nhưng lại làm mat đi nguồn gốc thực tiễn của các tri thức toán học, và do đó làm mất nghĩa của tri thức.
Hơn nữa, trong trường hợp này, một cách rất tự nhiên HS sẽ không lưỡng lự gì và hướng ngay đến việc xây dựng một mô hình toán học phù hợp với tri thức vừa đưa vào. Liệu vượt ra khỏi bối cảnh này, họ có thé xây dựng được mô hình toán hoc phù hợp hay không ? Tiến trình thứ hai, bản chất là DH roán thông qua DH mô hình hóa, cho phép khắc phục khiếm khuyết này. Ở đây tri thức cần giảng dạy sẽ hình thành từ quá trình nghiên cứu các vấn đề thực tiễn, nảy sinh với tư cách là kết quả hay phương tiện giải quyết vấn đề. Người ta gọi đây là DH bằng mô hình hóa.
MUC DICH CUA DAY HỌC XAC SUAT — THONG KE Xã hội cung cấp một lượng thông tin phong phú, đa dạng, thường là chính xác hoặc tương đối chính xác và được trình bày một cách khoa học hoặc không. Người ta có thể rút ra những kết luận nào từ thông tin được cung cấp ? Câu trả lời liên quan đến phương pháp phân tích thông tin. Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường gặp những hiện tượng không chắc chắn : kết quả bầu cử không đúng với dự kiến, dự báo thời tiết không đáng tin cậy, chỉ số suy thoái của thị trường chứng khoán, khả năng phát triển một lĩnh vực nào đó, những mô hình kinh tế không hiệu quả, và nhiều biểu hiện khác của tính không chắc chắn trong thế giới của chúng ta. Nghiên cứu phương pháp phân tích thông tin và tính không chắc chắn liên quan hai chủ đề : dữ liệu và cơ hội.
Đó chính là nội dung nghiên cứu của Thống kê và Xác suất. Chính vì thế mà ở nhiều nước các kiến nghị gần đây liên quan đến vấn đề giảng dạy toán trong nhà trường đều có nhất trí cao đối với việc nên gán cho Thống kê và Xác suất một vị trí nổi bật hơn so với những chương trình của quá khứ. Có lẽ vì thế mà PISA xem /ính không chắc chắn là một trong bốn ý tưởng bao quát nội dung toán giảng dạy ở các trường phô thông trên thế giới. Mục đích của DH Thống kê Việc giảng dạy Thống kê không thể chỉ nhắm vào các công thức, vì Thống kê không đơn thuần là một tập hợp kĩ thuật.
Đằng sau những kỹ thuật này là tư duy, là cách nắm bắt các đữ liệu, đặc biệt là nhận thức được sự tồn tại của những cái không chắc chắn, hệ quả của sự thay đổi thông tin và việc thu thập dữ liệu. DH Thống kê phải mang lại cho người học khả năng đưa ra quyết định trong những tính huống không chắc chắn. Cụ thê hơn, qua nghiên cứu chương trính toán ở bậc trung học của Cộng đồng pháp ngữ Bi, Bair và Hasbroeck (2002) cho rằng: “DH Thống kê ở bậc trung học cần đặc biệt nhắm đến việc đào tạo toán học cho công dân: bởi vì mỗi người nhận được vô số thông tin đa phương tiện dưới dạng ! Ba ý tưởng kia là đại lượng ; không gian và hình ; thay đổi và các mối quan hệ. số liệu hoặc biểu đồ, nên họ cần phải có khả năng hiểu, làm sáng tỏ và nhận định các thông tin.