Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU NANO TiO2 1. Vật liệu ống nano TiO2 1. Vật liệu nano TiO2 TiO2 là vật liệu oxit bán dẫn tồn tại chủ yếu trong tự nhiên với ba pha tinh thể: anatase, rutile và brookite trong đó hai dạng thường gặp nhất là anatase, rutile còn dạng brookite ít gặp và không có giá trị thương mại [9].1: Cấu trúc tinh thể của các pha TiO2 rutile (a), anatase (b) và brookite (c) (Ti (màu trắng); O (màu đỏ)) [9] Cấu trúc của hai dạng tinh thể anatase và rutil thuộc hệ tinh thể tetragonal (tứ diện) còn với brookite là octhorhombic (tứ phương) và chúng đều được tạo thành từ các bát diện lệch TiO6, liên kết với nhau thông qua các cạnh và đỉnh dùng chung. Cấu trúc anatase và rutil khác nhau bởi sự biến dạng của mỗi bát diện và cách sắp xếp giữa chúng.
Với pha anatase, mỗi bát diện sẽ tiếp xúc với 8 4 bát diện lân cận khác (4 bát diện chung cạnh và 4 bát diện chung oxi ở đỉnh) còn trong rutile, mỗi bát diện được gắn kết với 10 bát diện lân cận (2 bát diện chung cạnh và 8 bát diện chung oxi ở đỉnh. Các bát diện của anatase bị biến dạng mạnh hơn so với rutile nên tính đối xứng của nó thấp hơn rutile. Trong anatase, khoảng cách Ti-Ti lớn hơn còn khoảng cách Ti-O ngắn hơn so với rutile. Sự khác nhau này cũng ảnh hưởng đến cấu trúc điện tử, cấu trúc vùng năng lượng của hai dạng tinh thể và dẫn tới sự khác nhau về các tính chất vật lý, hóa học của vật liệu TiO2.
Pha brookite thể hiện cấu trúc phức tạp hơn. Khoảng cách liên giao và góc liên kết O-Ti-O tương tự như các rutile và anatase nhưng sự khác biệt là có sáu liên kết Ti-O khác nhau theo đó có 12 góc liên kết O-Ti-O khác nhau. Các thông số vật lý của ba cấu trúc tinh thể TiO2 được đưa ra trong bảng1. Các số vật lý của TiO2 pha anatase, rutile và brookite [10].
Cấu trúc tinh thể Rutile Anatase Brookite Tetragonal Tetragonal Octhorhombic Hệ tinh thể (Tứ diện) (Tứ diện) (Tứ phương) a=9,184 a=4,5936 a=3,784 Hằng số mạng (Å) b=5,447 c=2,9587 c=9,515 c=5,145 Nhóm không gian P42/mnm I41/amd Pbca Số đơn vị công thức 2 4 8 Thể tích ô cơ sở (Å) 31,2160 34,061 32,172 Mật độ (g/cm3) 4,13 3,79 3,99 Độ dài liên kết Ti-O (Å) 1,949 (4) 1,937 (4) 1,87~2,04 1,980 (2) 1,965 (2) Góc liên kết O-Ti-O 81,2o 77,7o 77,0o~105o 90.0o 92,6o Độ rộng vùng cấm (eV) 3,02 3,23 3,4 5 Pha rutile là dạng bền phổ biến nhất của TiO2, anatase và brookite là các dạng giả bền và chuyển thành rutile khi nung nóng. Tùy thuộc vào quá trình xử lý nhiệt, cấu trúc vật liệu chuyển dần từ dạng vô định hình sang pha anatase ở nhiệt độ khoản 300 ÷ 450 oC và chuyển dần sang pha rutile khi nung ở nhiệt độ cao (trên 800 oC). Pha anatase chiếm ưu thế khi được nung ở nhiệt độ thấp (300 ÷ 800 oC). Sự chuyển cấu trúc từ pha anatase sang pha rutile hoàn thành ở nhiệt độ xung quanh 900 oC.
Tốc độ chuyển pha của brookite sang rutile nhanh hơn của anatase sang rutile [9, 11, 12]. Tính chất quang xúc tác của vật liệu TiO2 TiO2 là vật liệu bán dẫn có độ linh động hạt tải lớn, vùng cấm rộng. Cấu trúc vùng năng lượng bao gồm vùng dẫn (CB - Conduction Band) và vùng hóa trị (VB - Valence Band), giữa hai mức này là năng lượng vùng cấm (Eg). Khi không có sự kích thích, electron sẽ lấp đầy vùng hóa trị, còn vùng dẫn trống.
Khi chất bán dẫn được kích thích bởi các photon với năng lượng bằng hoặc cao hơn mức năng lượng vùng cấm, các electron nhận được năng lượng từ các photon sẽ chuyển dời từ vùng VB lên CB tạo ra một lỗ trống mang điện tích dương ở vùng hóa trị. Các electron ở vị trí khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi. Như vậy lỗ trống mang điện tích dương có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị [13, 14]. Đối với chất bán dẫn TiO2, quá trình được thể hiện như sau: h TiO2 eTiO 2 + + h TiO 2 1.1 Các tính chất vật lý, hóa học xảy ra liên quan đến sự dịch chuyển điện tử giữa các dải năng lượng của vật liệu TiO2.
TiO2 anatase có độ rộng vùng cấm cỡ 3,2 eV tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 388 nm. TiO2 rutile có độ rộng vùng cấm là 3,0 eV tương ứng với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 413 nm. Cấu trúc vùng năng lượng của vật liệu TiO2 pha anata và rutile được thể hiện trong hình 1.2: Cấu trúc vùng năng lượng của TiO2 cho pha rutile (trái) , anatase (giữa) và brookite (phải)[9] Cấu trúc vùng năng lượng của TiO2 cho thấy vùng cấm của TiO2 anatase và rutile tương đối rộng và xấp xỉ bằng nhau nên chúng đều có khả năng oxy hóa mạnh. Nhưng vùng dẫn của anatase cao hơn của pha rutile (khoảng 0,3 eV), ứng với một thế khử mạnh hơn, có khả năng khử O2 thành O 2 còn vùng dẫn của rutile thấp hơn chỉ ứng với thế khử nước thành khí hiđro.
Do vậy, TiO2 pha anatase có tính hoạt động mạnh hơn [9]. Quá trình quang xúc tác của vật liệu TiO2 pha anatase diễn ra như sau: Các chất tham gia phản ứng được khuếch tán ở pha lỏng hoặc khí đến bề mặt vật liệu xúc tác TiO2 và chúng bị hấp phụ trên bề mặt của nó. Dưới tác dụng của ánh sáng kích thích có năng lượng lớn hơn hay bằng độ rộng vùng cấm của chất bán dẫn (hυ ≥ Eg) thì các điện tử từ vùng hóa trị chuyển lên vùng dẫn thành các điện tử tự do và để lại các lỗ trống ở vùng hóa trị. Điện tử và lỗ trống khuếch tán ra bề mặt vật liệu, các lỗ trống có thể tham gia trực tiếp vào phản ứng oxi hóa các chất ô nhiễm, hoặc có thể tham gia vào việc tạo thành gốc tự do hoạt động OH* còn các electron sẽ tham gia vào các quá trình khử hóa tạo thành gốc tự do.
Các gốc tự do sẽ tiếp tục oxi hóa các chất hữu cơ bị hấp phụ trên bề mặt chất xúc tác thành sản phẩm phân hủy là CO2 và H2O [15].3: Cơ chế quang xúc tác của vật liệu bán dẫn TiO2 [15] Cơ chế của quá trình quang xúc tác phân hủy chất hữu cơ của TiO2 ở dạng tinh thể xảy ra như sau [15]: TiO2 h eCB hVB (1.3) Tại vùng dẫn có sự hình thành của các gốc O2 và HO2*: O2 eCB O2 (1.8) Sự oxi hóa trực tiếp của lỗ trống: R h R * 1.9 Pha rutile cũng có tính chất quang xúc tác tương tự với anatase nhưng có hoạt tính quang xúc tác yếu hơn do dạng anatase có khả năng khử O2 thành O 2 còn rutile thì không. Chính vì vậy TiO2 anatase có khả năng nhận đồng thời oxi và hơi nước từ không khí cùng ánh sáng tử ngoại để phân hủy các hợp chất hữu 8 cơ. Do đó, trong nghiên cứu này, TiO2 cấu trúc anatase được chúng tôi hướng đến.3 Cơ chế diệt khuẩn của vật liệu TiO2 Quá trình oxy hóa quang xúc tác có khả năng phá hủy các vi khuẩn, virus, nấm mốc trong nước do các lỗ trống quang sinh tạo ra gốc hydroxyl trên bề mặt có tác dụng phá hủy hoặc làm biến dạng thành tế bào, làm đứt gãy chuỗi DNA, dẫn đến làm cho chúng không hoạt động hoặc chết ngay tức khắc. Mặt khác các electron quang sinh khử oxi tạo ra gốc O2.- và sau đó tạo ra H2O2 cũng góp phần tiêu diệt các vi khuẩn, virus, mầm bệnh trong nước.
Các kết quả nghiên cứu giúp làm rõ luận điểm về cơ chế diệt khuẩn vừa đề cập, Maness và cộng sự (1999) cho thấy gốc OH.- và H2O2 sinh ra trong quá trình oxi hóa quang xúc tác đã tấn công các phospholipid không no của E.coli, làm phá hủy màng tế bào, làm đứt chuỗi DNA của các vật liệu sinh học [16]; Cho và cộng sự (2004) xác định được mối quan hệ tuyến tính giữa sự khử hoạt tính vi khuẩn E.coli với nồng độ hydroxyl OH. trong quá trình oxi hóa quang xúc tác [17]. Một số nhà nghiên cứu khác đã chứng tỏ quá trình oxy hóa đối với vi sinh vật của chất xúc tác quang làm phá hủy thành tế bào, màng tế bào và sự rò rỉ các thành phần nội bào. Saito và các công sự [12] đã tìm ra sự rò rỉ ion K+ trong quá trình khử trùng Streptococcus sorbrinus AHT bằng TiO2 được chiếu sáng, và chính sự thất thoát ion K+ làm cho các tế bào bị chết đi.
Khi một nồng độ lớn ion K+ được thêm vào dung dịch sau phản ứng, sự sống của vi sinh vật không thể phục hồi. Để xác định mức độ tổn hại màng tế bào, các tác giả đo lường sự rò rỉ K+, từ đó xác định lượng tế bào bị tiêu diệt bằng TiO2. Sau khi được chiếu sáng 120 phút, các phân tử có khối lượng lớn như protein và ARN được tìm thấy ở ngoại bào, chứng tỏ phần lớn tế bào đã bị phá vỡ. Các tác giả cũng nhận thấy sự giảm pH tại thời điểm này, được lý giải là do sự rò rỉ của các thành phần nội bào có tính acid và sự khoáng hóa các thành phần này thành CO2 Bằng chứng trực tiếp của sự phá hủy màng tế bào được đưa ra bởi Sunada và các cộng sự [12] khi sử dụng màng mỏng TiO2 để đo lường sự phân hủy 9 endotoxin từ E.
Endotoxin là một đại phân tử lipopolysaccharide, có trong thành phần màng ngoài tế bào vi khuẩn Gram âm, bao gồm cả vi khuẩn E. Độc chất của endotoxin gây ra phần lớn do các lipid (điển hình là lipid A). Endotoxin là một thành phần bên trong của lớp vỏ tế bào vi khuẩn, và chỉ được tạo ra khi cấu trúc của tế bào bị phân hủy. Do đó, sự giải phóng endotoxin chứng tỏ màng ngoài của tế bào bị phá hủy.
Kết quả này chứng tỏ quá trình xúc tác quang bằng TiO2 dẫn đến sự phân hủy màng ngoài tế bào vi khuẩn E. coli, cũng như sự phân hủy các độc chất sinh ra khi tế bào vi khuẩn bị tiêu diệt. Trong nghiên cứu gần đây, Sunada và các cộng sự tiếp tục chứng minh sự phân huỷ tế bào bởi xúc tác quang hoá bằng cách đo mức độ bất hoạt của tế bào E.coli còn nguyên vẹn và tế bào bị phá huỷ thành tế bào. Phương pháp đo AFM các tế bào E.