Chương 1: Tổng quan về đề tài, lý do chọn đề tài, tóm tắt và bố cục luận văn và giới thiệu các khái niệm về kết nối. • Chương 2: Trình bày các khái niệm, kí hiệu cơ bản trong đồ thị. • Chương 3: Trình bày khái niệm kết nối cầu vồng, tính chất về số kết nối cầu vồng và số kết nối k−cầu vồng trong một số lớp đồ thị đặc biệt. • Chương 3: Trình bày khái niệm của các loại kết nối cầu vồng mở rộng: kết nối chính quy, kết nối (k, l)−cầu vồng và các kết quả nổi bật.
Đặc biệt đi chi tiết về các kết quả của số kết nối (1, 2)−cầu vồng. • Chương 4: Trình bày một số chứng minh mới về giới hạn của số kết nối (1, l)−cầu vồng và một số lớp đồ thị có số kết nối (1, 2)−cầu vồng lớn. • Chương 5: Kết luận về những gì đạt và hướng phát triển của luận văn. 12 Lý thuyết cơ bản về đồ thị 2 2.1 Khái niệm đồ thị và một số dạng đồ thị đặc biệt Định nghĩa đồ thị Bài toán bảy cây cầu Euler Câu chuyện bắt đầu vào thế kỷ 18, tại thị trấn Königsberg nằm bên bờ sông Pregel có 7 chiếc cầu, chia thành phố thành 4 vùng.
Chúng có thể nối hai bên bờ sông, hay bờ sông với cù lao hoặc là nối 2 cù lao. Vào lúc bấy giờ, người dân Kaliningrad cảm thấy quá mất thời gian khi phải đi qua sự sắp xếp cực kỳ phức tạp của những cây cầu tại đây. Vì thế họ đưa ra một câu đố mà chưa từng có người giải ra, đó chính là liệu rằng có cách nào để đi qua hết 7 cây cầu mà không phải lặp lại cây cầu nào hay không (mỗi cây cầu chỉ được qua một lần), bất kể điểm xuất phát hay điểm tới. Câu đố đó đã thu hút nhiều người thử sức, thậm chí là đến tận Kaliningrad để thử đi dạo để tìm cảm hứng cho lời giải, thế nhưng đến không có ai thành công tìm được đáp án.
Mặc dù vậy, Euler vẫn cảm thấy hứng thú bài toán này. Trong một bài báo được xuất bản vào năm 1741, Euler đã trình bày lời giải cho câu đố 7 cây cầu Königsberg và đưa ra lời giải tổng quát cho dạng bài toán này, bất kể số lượng vùng đất cũng như số lượng cây cầu. Trong đó thì Euler đã giản lược và thay tất cả các chi tiết đất, cù lao bằng điểm và thay cầu bằng đoạn nối, sau đó ông thu về một đồ thị vô hướng như bên dưới. Cách biểu diễn bằng điểm và đoạn thẳng hay cung chính là bước 13 đầu cho sự ra đời của lý thuyết đồ thị sau này.
Năm 1852 Francis Guthrie, trong khi tô màu bản đồ các quận của nước Anh, ông nhận thấy rằng cần có ít nhất bốn màu để không có hai vùng nào có chung đường biên giới có cùng màu. Ông mặc định rằng bốn màu sẽ đủ để tô màu cho bất kỳ bản đồ nào. Do đó ông đưa ra bài toán bốn màu về vấn đề liệu chỉ với bốn màu có thể tô màu một bản đồ bất kì sao cho không có hai nước nào cùng biên giới được tô cùng màu. Bài toán này được xem như đã khai sinh ra lý thuyết đồ thị, và chỉ được giải sau một thế kỉ vào năm 1976.
Trong khi cố gắng giải quyết bài toán này, các nhà toán học đã phát minh ra nhiều thuật ngữ và khái niệm nền tảng cho lý thuyết đồ thị. Chúng ta sẽ đến với những khái niệm và tính chất cơ bản nhất của lý thuyết đồ thị. Những khái niệm, kí hiệu được tổng hợp và trình bày trong luận văn được dựa theo cuốn Introduction to graph theory [25], và cuốn giáo trình Toán rời rạc [20]. Đồ thị G là một bộ ba gồm có V (G) là tập hợp các đỉnh, E(G) là tập hợp các cạnh và một quan hệ của mỗi cạnh nối hai đỉnh nào đó với nhau, hai đỉnh (không nhất thiết phải phân biệt) được gọi là đầu mút (endpoints) của cạnh.
Khuyên là cạnh có hai đầu trùng nhau (cùng một đỉnh). Đa cạnh là các cạnh có chung đầu mút (các đỉnh khác nhau). Đồ thị đơn là đồ thị không có khuyên và đa cạnh. Đơn đồ thị vô hướng G = (V, E) bao gồm V (G) là tập các đỉnh, và E(G) là tâp các cặp cạnh không có thứ tự gồm hai phần tử khác nhau của V (G) gọi là các cạnh.
Ta kí hiệu e = uv (hoặc e = vu) cho cạnh e với đầu mút u và v. Một đồ thị được gọi là hữu hạn nếu như tập đỉnh và tập cạnh của nó là hữu hạn. Đồ thị rỗng là đồ thị mà tâp đỉnh và tập cạnh của nó là rỗng. Việc mở rộng các định lý tổng quát đến đồ thị rỗng sẽ dẫn đến những phưc tạp không cần thiết, vì vậy chúng tôi chỉ xem xét các đồ thị có tập đỉnh khác rỗng.
Trong các kết quả và chứng minh được trình bày trong lụân văn , chúng tôi chỉ xem xét các đồ thị đơn vô hướng hữu hạn (khác rỗng), có n đỉnh và m cạnh. 14 Các thuật ngữ cơ bản Trong mục này chúng ta sẽ trình bày một số thuật ngữ cơ bản của lý thuyết đồ thị. Trước tiên, ta xét các thuật ngữ mô tả các đỉnh và cạnh của đồ thị. Hai đỉnh u và v của đồ thị vô hướng G được gọi là kề nhau nếu uv là cạnh của đồ thị G.
Nếu e = uv là cạnh của đồ thị thì ta nói cạnh này là liên thuộc với hai đỉnh u và v, hoặc cũng nói là cạnh e là nối đỉnh u và đỉnh v, đồng thời các đỉnh u và v sẽ được gọi là các đầu mút của cạnh uv. Để có thể biết có bao nhiêu cạnh liên thuộc với một đỉnh, ta có định nghĩa sau: Định nghĩa 2. Ta gọi bậc của đỉnh v trong đồ thị vô hướng là số cạnh liên thuộc với nó và ký hiệu là deg(v).1: Đồ thị vô hướng G Đỉnh bậc 0 gọi là đỉnh cô lập. Đỉnh bậc 1 được gọi là đỉnh treo.1 đỉnh g là đỉnh cô lập, a và d là các đỉnh treo.
Bậc đỉnh lớn nhất trong đồ thị được kí hiệu là ∆(G). Bậc của đỉnh có tính chất sau: Định lí 2. Giả sử G là dồ thị vô hướng với m cạnh. Khi đó X 2m = deg(v) v∈V Chứng minh.
Rõ ràng mỗi cạnh e = uv được tính một lần trong deg(u) và một lần trong deg(v). Từ đó suy ra tổng tất cả các bậc của các đỉnh bằng hai lần số cạnh. Trong đồ thị vô hướng, số đỉnh bậc lẻ (nghĩa là có bậc là số lẻ) là một số chẵn. Một số dạng đồ thị đặc biệt Trong mục này ta xét một số dạng đơn đồ thị vô hướng đặc biệt xuất hiện trong nhiều vấn đề ứng dụng thực tế.
15 Đồ thị tầm thường: là đồ thị hữu hạn chỉ gồm một đỉnh duy nhất và không có cạnh. Đồ thị chính quy: còn gọi là đồ thị đều (tiếng Anh: regular graph) là một đồ thị trong đó mỗi đỉnh có số láng giềng bằng nhau, nghĩa là các đỉnh có bậc bằng nhau. Một đồ thị chính quy với các đỉnh có bậc bằng k được gọi là đồ thị chính quy bậc k. Đồ thị đầy đủ: Đồ thị đầy đủ n đỉnh, ký hiệu bởi Kn , là đơn đồ thị vô hướng mà giữa hai đỉnh bất kì của nó luôn có cạnh nối.2: Đồ thị đầy đủ Đồ thị đầy đủ Kn có tất cả n(n − 1)/2 cạnh, nó là đơn đồ thị có nhiều cạnh nhất trong số các đơn đồ thị có cùng số đỉnh.
Đồ thị đường: Đồ thị đường Pn là đồ thị liên thông có các đỉnh có thể được liệt kê theo thứ tự v1 , v2 , ., vn sao cho các cạnh là vi vi+1 trong đó i = 1, 2,. Đồ thị đường có đúng hai đỉnh bậc 1. Đồ thị vòng:[20] Đồ thị vòng Cn , n ≥ 3 gồm n đỉnh v1 , v2 , ., vn và các cạnh (v1 , v2 ), (v2 , v3 ), ., (vn−1 , vn ) Đồ thị bánh xe:[20] Đồ thị Wn thu được từ Cn bằng cách bổ sung vào một đỉnh mới nối với tất cả các đỉnh của Cn. Đồ thị lập phương:[20] Đồ thị lập phương n đỉnh Qn là đồ thị với các đỉnh biểu diễn 2n xâu nhị phân độ dài n.
Hai đỉnh của nó kề nhau nếu như hai xâu nhị phân tương ứng chỉ khác nhau một bit.3: Đồ thị lập phương Qn 16 Đồ thị hai phía:[20] Đơn đồ thị G được gọi là hai phía nếu như tập đỉnh V (G) của nó có thể phân hoạch thành hai tập X và Y sao cho mỗi cạnh của đồ thị chỉ nối một đỉnh nào đó trong X với một đỉnh nào đó trong Y. Đồ thị hai phía G được gọi là đồ thị hai phía đầy đủ nếu như hai đỉnh kề nhau khi và chỉ khi chúng nằm trong hai tập đỉnh rời nhau. Khi hai tập rời nhau có kích thước lần lượt là m và n thì đồ thị hai phía đầy đủ được ký hiệu là Km,n .4: Đồ thị hai phía đầy đủ Đồ thị hai phía đầy đủ K1,k còn được gọi là đồ thị sao, kí hiệu Sk. Đồ thị bù:[20] G của đơn đồ thị G là đơn đồ thị với tập đỉnh V (G) được định nghĩa bởi uv ∈ E(G) nếu và chỉ nếu uv ∈ / E(G) Hình 2.5: G và đồ thị bù G Đẳng cấu đồ thị Hai đồ thị G và H là đẳng cấu, kí hiệu G ∼ = H nếu như tồn tại song ánh θ : V (G) → V (H) và φ : E(G) → E(H) sao cho nếu cạnh e ∈ E(G) liên kết với uv ⊆ V (G) thì cạnh φ(e) sẽ liên kết với cặp đỉnh {θ(u), θ(v)} trong V (H) (hay còn gọi là tương ứng cạnh).2 Các phép toán trong đồ thị Trong phần này chúng tôi sẽ giới thiệu các phép biến đổi đồ thị.
17 Phép xóa đỉnh và cạnh Cho đồ thị n đỉnh và m cạnh: Phép xóa cạnh, kí hiệu bởi G\e, là phép toán mà trên đó một đồ thị mới thu được bằng cách xóa cạnh e trên G nhưng giữ nguyên các đỉnh và các cạnh còn lại. Tương tự phép xóa đỉnh , kí hiệu bởi G − v, là phép toán mà một đồ thị mới thu được bằng cách xóa đỉnh v và các cạnh liên thuộc với nó.6: G và đồ thị G\e, G − v Đồ thị con Một đồ thị con của G là đồ thị F sao cho V (F ) ⊇ V (G) và E(F ) ⊇ E(G).