Chương 1: Giới thiệu Trình bày về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu bài nghiên cứu. Chương 2: Khung lý thuyết của đề tài và các nghiên cứu trước đây Giới thiệu về khung lý thuyết phục vụ cho nghiên cứu. Tác giả cũng tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến đề tài này trong chương 2,làm cơ sở để đề xuất mô hình nghiên cứu phù hợp với thực tế. Chương 3: Mô hình phân tích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Trình bày mô hình nghiên cứu được đề xuất, cỡ mẫu, các đặc điểm của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu,.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày những kết quả nghiên cứu đạt được tương ứng với từng mục tiêu đề ra của nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày những kết luận rút ra từ nghiên cứu, những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất kiến nghị cũng như hướng nghiên cứu sau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khái niệm IPO.
Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng còn gọi là IPO (Initial Public Offering) là việc một doanh nghiệp lần đầu phát hành ra cổ phần thường của mình ra công chúng. Trong vòng đời của mình, mỗi doanh nghiệp chỉ có một lần thực hiện IPO. Một phần của IPO có thể là cung ứng lần đầu (công ty phát hành cổ phần để huy động vốn mới), hoặc là cung ứng lần thứ hai, đó là việc những cổ đông trước IPO (thường là những nhà sáng lập hoặc các quỹ đầu tư mạo hiểm đã đầu tư vào công ty trong giai đoạn khởi sự) chuyển giao một phần tài sản của họ cho các cổ đông mới bằng việc bán một số cổ phần của mình trong đợt IPO. Trong hoạt động IPO, có 3 chủ thể chính tham gia: nhà phát hành, nhà bảo lãnh và nhà đầu tư.
Sau hoạt động IPO, cấu trúc sở hữu và cơ chế quản lý của công ty sẽ thay đổi đáng kể. Xác định giá IPO. Việc định giá IPO chủ yếu theo các cơ chế: đấu giá (Auctions), chào bán với giá cố định (Fixed Price Offer), đăng ký ghi sổ (Book Building). Cụ thể: Trong cơ chế đấu giá (Auctions): giá cả được xác định dựa vào giá đấu của nhà đầu tư, nghĩa là giá sẽ được xác định trong cuộc đấu giá.
Nhà phát hành đưa ra một mức giá tối thiểu, các nhà đầu tư tham gia đấu giá đưa ra số lượng cổ phần và mức giá mà họ sẵn lòng trả. Trong cơ chế chào bán với giá cố định (Fixed Price Offer): giá phát hành được xác lập từ trước. Đầu tiên, nhà phát hành đưa ra giá cổ phần, nếu nhà đầu tư đồng ý mua với mức giá đó, họ sẽ thực hiện đăng ký mua. Trong cơ chế đăng ký ghi sổ (Book Building): các nhà bảo lãnh phát hành sẽ thực hiện các cuộc roadshow (giới thiệu chứng khoán của tổ chức phát hành) đến các nhà đầu tư tiềm năng để xác định tổng mức cầu và giá mà các nhà đầu tư có thể chấp nhận, sau đó cùng với doanh nghiệp xác lập ra mức giá chào bán.
Thông thường nhà bảo lãnh thông báo cho các nhà đầu tư tiềm năng những số liệu ước tính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 về giá cổ phiếu và số lượng cổ phiếu dự kiến phát hành. Tiếp theo nhà bảo lãnh phát hành sẽ thực hiện các roadshow. Sau cùng, nhà bảo lãnh sẽ xây dựng một danh sách dựa trên các ghi nhận số lượng cổ phiếu mà các nhà đầu tư tiềm năng muốn mua tại các mức giá. Mặc dù có nhiều cơ chế để định giá song không phải thị trường nào cũng thực hiện tất cả các cơ chế, thông thường mỗi thị trường sẽ chỉ áp dụng một phương thức định giá nhất định.
Trong các cơ chế định giá trên thì cơ chế đăng ký ghi sổ được ưa thích hơn (Sherman, 2001). Đồng thời trong hơn 80% những trường hợp IPO ngoài nước Mỹ và Canada đều định giá IPO theo cơ chế đăng ký ghi sổ (Ljungqvist và các cộng sự, 2003). Cơ chế đăng ký ghi sổ được sử dụng phổ biến hơn các cơ chế khác do các ưu điểm mà cơ chế này mang lại như: giúp nhà bảo lãnh phát hành kiểm soát chất lượng nhà đầu tư tham gia vào đợt IPO tốt hơn, việc định giá công ty được nhà đầu tư nghiên cứu kỹ và mức giá do các nhà đầu tư đưa ra chính xác hơn (Sherman, 2004). Nhờ vậy, giảm thiểu rủi ro cho cả công ty IPO và nhà đầu tư, đồng thời giảm mức độ định dưới giá.
Chính vì thế, cơ chế đăng ký ghi sổ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia.Hiện tượng định dưới giá IPO. Các cổ phiếu trong đợt IPO thường được định dưới giá. Về mặt lý thuyết, một cổ phiếu định dưới giá được hiểu là giá thị trường của nó thấp hơn giá trị nội tại, nghĩa là tỷ lệ % chênh lệch giữa giá thị nội tại và giá phát hành là dương. Trong đó, giá trị nội tại được tính toán dựa trên các ước tính dòng tiền trong tương lai chiết khấu về hiện tại.
Tuy nhiên việc ước lượng dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp cũng như suất chiết khấu để quy dòng tiền đó về hiện tại gặp nhiều khó khăn do tính không chắc chắn của dòng tiền. Do đó, về mặt thực nghiệm, một cổ phiếu IPO được xem là bị định dưới giá khi tỷ suất sinh lợi điều chỉnh thị trường ngày giao dịch đầu tiên của nó là dương. Trong đó, tỷ suất sinh lợi điều chỉnh thị trường ngày giao dịch đầu tiên được xác định bằng chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và tỷ suất sinh lợi của chỉ số đại diện thị trường tại ngày giao dịch đầu tiên đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Nghiên cứu về hiện tượng định dưới giá khi IPO đã được quan tâm từ thập niên 1970.
Các nghiên cứu của Logue (1973), Ibbotson (1975) chỉ ra rằng khi IPO doanh nghiệp có khuynh hướng định giá thấp cổ phiếu của họ, vì thế giá cổ phiếu sẽ nhảy vọt trong ngày giao dịch đầu tiên trên thị trường. Các nghiên cứu về hiện tượng định dưới giá sau đó được tiếp tục phát triển và mở rộng ra nhiều thị trường tại nhiều quốc gia. Theo Brealey và Myers (2003), hiện tượng định dưới giá khi IPO nghĩa là giá phát hành thấp hơn giá trị thực của cổ phiếu, mức độ định dưới giá chính là khoảng chênh lệch giữa giá đóng cửa ngày giao dịch đầu tiên và giá phát hành. Thông thường, mức độ định dưới giá khi IPO được đo lường thông qua tỷ suất sinh lợi ban đầu (Initial return).
Bằng chứng ở nhiều quốc gia cho thấy tỷ suất sinh lợi ban đầu luôn dương, các nhà đầu tư mua cổ phiếu IPO sẽ có tỷ suất sinh lợi cao nếu họ bán cổ phiếu trong ngày giao dịch đầu tiên trên thị trường. Theo nghiên cứu của Ritter (2013) thực hiện ở 33 quốc gia cho thấy tỷ suất sinh lợi ban đầu cao nhất tại Trung Quốc. Đồng thời, tỷ suất sinh lợi ban đầu tại một số quốc gia liên tục thay đổi theo thời gian. Theo nghiên cứu của Krigman (1999), hiện tượng định dưới giá khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng sẽ làm gia tăng tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu sau khi IPO.
Khi cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi gia tăng trong những ngày đầu tiên thì sẽ tiếp tục duy trì trong vòng ba tháng đầu tiên. Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi này sẽ sụt giảm trong dài hạn. Ngoài ra, việc định dưới giá sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng thu hút vốn hơn trong các đợt phát hành chứng khoán tiếp theo do được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Các lý giải cho hiện tượng định dưới giá IPO.
Khi các bằng chứng về sự tồn tại của hiện tượng định dưới giá IPO được tìm thấy tại khắp các thị trường trên thế giới thì việc giải thích hiện tượng này trở nên hấp dẫn các nhà nghiên cứu. Các lý giải được đưa ra như: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Cái giá phải trả của người chiến thắng. Rock chia các nhà đầu tư thành 2 loại: nhà đầu tư có thông tin và nhà đầu tư không có thông tin. Những nhà đầu tư có thông tin sẽ không tham gia vào những cuộc IPO bị định giá cao làm cho nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ dễ dàng mua được những cổ phiếu bị định giá cao này.
Những nhà đầu tư không có thông tin này mặc dù là những người chiến thắng trong cuộc đấu giá nhưng họ phải trả giá cho việc mua một cổ phiếu với giá cao hơn giá trị thực của nó. Do đó, để giảm thiểu tổn thất này, các nhà đầu tư không có thông tin sẽ chỉ tham gia đấu giá nếu đợt IPO được định giá thấp. Vấn đề đại diện. Baron (1982) đưa ra lý thuyết về vấn đề đại diện giữa công ty phát hành và nhà bảo lãnh phát hành.
Vấn đề đại diện xảy ra khi nhà bảo lãnh biết nhiều thông tin hơn về thị trường vốn và giá phân phối so với công ty phát hành. Khi đó, các nhà bảo lãnh sẽ tận dụng lợi thế này để định dưới giá cổ phiếu, hành động này giúp cho nhà bảo lãnh ít phải nỗ lực để tiếp thị đến các nhà đầu tư. Vì vậy, các nhà bảo lãnh sẽ có thể tối đa hóa các khoản phí bảo lãnh phát hành và tối thiểu hóa chi phí. Mặt khác, sẽ rất khó cho công ty pháthành để theo dõi mức độ nỗ lực cũng như kiểm soát nhà bảo lãnh mà không tốn chi phí.
Do đó, để nâng cao tỷ lệ thành công của hoạt động bảo lãnh cũng như để nhà bảo lãnh tập trung vào nỗ lực phát hành, công ty phát hành cho phép định dưới giá IPO. Lý thuyết phát tín hiệu. Lý thuyết giả định công ty thực hiện IPO có thể chia thành nhóm các công ty chất lượng tốt và nhóm chất lượng thấp. Do tồn tại bất cân xứng thông tin, nhà đầu tư không thể phân biệt được hai nhóm công ty này trên thị trường.
Vì vậy, các công ty tốt thực hiện định dưới giá cổ phiếu IPO của mình nhằm gửi tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 hiệu về giá trị thực sự của họ đến thị trường.