Chương 1: Cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại và hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại. 6 Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Long An. Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Long An. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại (theo PGS.
TS Nguyễn Đăng Dờn): Trong nền kinh tế hàng hóa, có nhiều doanh nghiệp, nhiều đơn vị tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau. Có ngành tạo ra các sản phẩm hàng hóa cho xã hội như nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, có ngành chỉ làm nhiệm vụ lưu thông phân phối, lại có ngành chỉ thuần túy là cung cấp dịch vụ (vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng). Trong đó các ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Tất cả đều góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển.
Ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng được coi là một loại định chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thị trường. Người ta cho rằng Ngân hàng thương mại ra đời trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển tới một trình độ nhất định, đồng thời qua quá trình tồn tại và phát triển hàng nhiều thế kỷ, hệ thống NHTM ngày càng được hoàn thiện, NHTM trở thành một trong những định chế không thể thiếu của nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. NHTM có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế - xã hội. Vậy NHTM là gì? Ngân hàng thương mại là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với doanh nghiệp, tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân, bằng việc huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi hoạt kỳ, tiền gửi định kỳ, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đồng thời sử dụng số vốn huy động được để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng là khách hàng trong nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế. Sự có mặt của ngân hàng thương mại trong hầu hết các mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội đã chứng minh rằng: ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế - xã hội. Luật số 47/2010/QH12 Luật các Tổ chức tín dụng có định nghĩa: 8 “Ngân hàng thương mại là loại hình được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này, nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Khoản 4, Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng.
Trong đó hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng bao gồm: Huy động vốn dưới mọi hình thức, cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán, cho thuê tài chính, thấu chi, cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng khác. Luật các tổ chức tín dụng còn khẳng định tính chất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Luật Ngân hàng thương mại của các nước trên thế giới đều khằng định: Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường với nhiệm vụ nhận tiền gửi của công chứng dưới hình thức ký thác, và sử dụng nguồn đó cho các nghiệp vụ về tín dụng, chiết khấu và các hoạt động dịch vụ khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.2 Bản chất của ngân hàng thƣơng mại (theo PGS. TS Nguyễn Đăng Dờn): Bất kể nguồn gốc ra đời của NHTM như thế nào, chúng ta đều có thể nhận thấy rằng, NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế - hoạt động kinh doanh tiền tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Bản chất của NHTM thể hiện qua các khía cạnh sau đây: - Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt và là một tổ chức tín dụng hoạt động kinh doanh trong ngành dịch vụ tài chính ngân hàng. Nói NHTM là một doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế, nghĩa là NHTM hoạt động trong một ngành kinh tế, có cơ cấu tổ chức bộ máy như một doanh nghiệp bình đẳng trong quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp khác, phải tự chủ về kinh tế và phải có nghĩa vụ đống thếu cho nhà nước như các đơn vị kinh tế khác. - Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các NHTM phải có vốn (vốn được cấp nếu là ngân hàng công, được cổ đông góp vốn nếu là ngân hàng cổ phần…), phải tự chủ về tài chính (tự lấ thu nhập để bù chi phí), đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận.
Hoạt động kinh doanh của NHTM cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy 9 nhiên việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước; - Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội và mặt khác lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng và khéo léo trong điều hành hoạt động để tránh những thiệt hại cho xã hội. Lĩnh vực hoạt động này của NHTM góp phần cung ứng một khối lượng vốn tình dụng rất lớn cho nền kinh tế - xã hội… Như vậy, ngân hàng thương mại là loại định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để phát triển kinh tế xã hội.3 Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại (theo PGS. TS Nguyễn Đăng Dờn): 1.1) Hoạt động huy động vốn: Huy động vốn là một trong hai mặt của hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Với hoạt động huy động vốn, các ngân hàng thương mại được sử dụng tất cả các công cụ và phương pháp khác nhau để huy động mọi nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vat vốn của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức sau: a) Nhận tiền gửi (nhận ký thác); + Nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng VND và bằng ngoại tệ.
+ Nhận tiền gửi của các cá nhân, các tổ chức đoàn thể xã hội bằng VND và bằng ngoại tệ. + Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng bằng VND và bằng ngoại tệ. + Các loại tiền gửi khác (Tiền ký quỹ đảm bảo thanh toán). b) Phát hành chứng từ có giá để huy động vốn; + Phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn (giấy tờ có giá có thời hạn ban đầu dưới 1 năm).
10 + Phát hành trái phiếu ngân hàng (giấy tờ có giá có thời hạn ban đầu từ 1 năm trở lên). c) Vay các tổ chức tín dụng khác; + Vay ngân hàng trong nước. + Vay ngân hàng nước ngoài. d) Vay ngân hàng nhà nước Việt Nam.
+ Vay tái cấp vốn. + Vay tái chiết khấu.2) Hoạt động tín dụng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là hoạt động chuyển hóa nguồn vốn huy động để sử dụng cho nền kinh tế dưới hình thức cho vay trực tiếp, cho vay gián tiếp để phát triển sản xuất kinh doanh và phục vụ nhu cầu đời sống của người lao động: a) Cho vay trực tiếp; + Theo tính chất: - Cho vay sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế. - Cho vay tiêu dùng đối với cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức đoàn thể xã hội. + Theo phương thức cho vay: - Cho vay theo hạn mức tín dụng.
- Cho vat từng lần. + Theo tính chất đảm bảo: - Cho vay có đảm bảo (thế chấp, cầm cố). - Cho vay không có đảm bảo (tín chấp). + Theo thời hạn: - Cho vay ngắn hạn với thời gian từ một năm trở xuống.
- Cho vay trung hạn với thời gian từ trên 1 năm đến 5 năm. - Cho vay dài hạn với thời gian trên 5 năm. + Theo chu kỳ luân chuyển vốn: - Cho vay bổ sung vốn lưu động. 11 - Cho vay dự án đầu tư.
b) Cho vay gián tiếp; + Chiết khấu chứng từ có giá. + Bao thanh toán. c) Hình thức cho vay khác + Thấu chi. + Cho vay thông qua thẻ tín dụng.
d) Bảo lãnh ngân hàng; + Bảo lãnh vay vốn. + Bảo lãnh thanh toán. + Bảo lãnh dự thầu. + Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
+ Bảo lãnh hoàn thanh toán. + Các hình thức bảo lãnh khác. e) Cho thuê tài chính. Ngân hàng thương mại muốn hoạt động cho thuê tài chính phải thành lập công ty cho thuê tài chính.
Các loại hình hoạt động cho thuê tài chính gồm có: + Cho thuê tài chính thông thường với 3 bên tham gia: Loại hình cho thuê này thường được vận dụng khi cho thuê tài sản thiết bị mới 100%, đòi hỏi phải có sự tham gia của 3 bên là nhà cung cấp, bên cho thuê và bên đi thuê. + Cho thuê tài chính thông thường với 2 bên tham gia: Loại hình cho thuê này thường sử dụng trường hợp cho thuê tài sản cũ, đã qua sử dụng, vì vậy không cần thiết phảo có sự tham gia của nhà cung cấp, chỉ có 2 bên tham gia là bên cho thuê và bên đi thuê. + Mua và cho thuê lại: Công ty cho thuê tài chính bỏ vốn của mình ra mua tài sản thiết bị của một tổ chức hoặc cá nhân, đồng thời cho tổ chức hoặc cá nhân đó thuê lại tài sản thiết bị này trong một thời gian nhất định.