Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu hoạt tính quang xúc tác của các vật liệu nano TiO2, CNT, ZnO, SiO2

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu tổng hợp đặc trưng và đánh giá hoạt tính quang xúc tác của các hệ vật liệu tổ hợp trên, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Viện Hóa Học Công Nghiệp Việt Nam

Chuyên ngành

Hóa lý thuyết

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

163
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. GIỚI THIỆU VỀ XÚC TÁC QUANG HÓA TRÊN CƠ SỞ TiO2

1.2. XÚC TÁC QUANG TRÊN CƠ SỞ ỐNG NANO TiO2 VÀ CNTs

1.3. XÚC TÁC QUANG TiO2 NANO TRÊN CHẤT MANG ZnO và SiO2

1.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH HÌNH XÚC TÁC QUANG HÓA TRÊN CƠ SỞ TiO2

1.5. XỬ LÝ NƯỚC THẢI CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT BỘT GIẶT

1.6. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

1.7. KẾT LUẬN RÚT RA TỪ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Tổng hợp vật liệu ống nano TiO2

2.2. Tổng hợp xúc tác TNTs/MWCNTs

2.3. Tổng hợp vật liệu trên TiO2 nano trên các chất mang

2.4. CÁC PHƯƠNG PHÁP HOÁ LÝ ĐẶC TRƯNG TÍNH CHẤT CỦA XÚC TÁC

2.5. ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH QUANG HOÁ CỦA XÚC TÁC

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ XÚC TÁC ỐNG NANO TiO2

3.2. NGHIÊN CỨU TỔNG HỢP XÚC TÁC TRÊN CƠ SỞ ỐNG NANO TiO2

3.3. ĐÁNH GIÁ HOẠT TÍNH QUANG XÚC TÁC

3.4. NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH QUANG XỬ LÝ MB TRÊN HỆ THIẾT BỊ LIÊN TỤC SỬ DỤNG XÚC TÁC QUANG TNTs/ZnO

3.5. NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH QUANG XỬ LÝ NƯỚC THẢI NHÀ MÁY SẢN XUẤT BỘT GIẶT TRÊN HỆ THIẾT BỊ LIÊN TỤC

KẾT LUẬN

TÍNH MỚI CỦA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quang xúc tác

Quang xúc tác là một quá trình sử dụng ánh sáng để kích hoạt phản ứng hóa học, trong đó TiO2 là một trong những vật liệu chính được nghiên cứu. Hoạt tính quang của TiO2 phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể và kích thước hạt. Hai dạng chính của TiO2 là anatase và rutile, trong đó anatase thường có hoạt tính quang cao hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh kích thước và hình dạng của vật liệu nano có thể cải thiện đáng kể hiệu suất quang xúc tác. Theo một nghiên cứu, việc sử dụng CNT (ống nano cacbon) làm chất mang có thể tăng cường khả năng hấp thụ ánh sáng và giảm thiểu sự tái kết hợp của điện tử và lỗ trống, từ đó nâng cao hiệu suất quang xúc tác. Điều này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các hệ xúc tác hiệu quả hơn trong xử lý ô nhiễm môi trường.

1.1. Cấu trúc và tính chất của TiO2

TiO2 thuộc phân nhóm IVB của oxit kim loại chuyển tiếp, tồn tại dưới ba dạng tinh thể: brookite, anatase và rutile. Trong đó, anatase và rutile là hai dạng phổ biến nhất. Cấu trúc của TiO2 có ảnh hưởng lớn đến hoạt tính quang của nó. Anatase có cấu trúc bát diện với liên kết Ti-O ngắn hơn so với rutile, dẫn đến khả năng hấp thụ ánh sáng tốt hơn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc chuyển đổi giữa các dạng tinh thể có thể ảnh hưởng đến hiệu suất quang xúc tác. Việc tối ưu hóa cấu trúc và kích thước của TiO2 có thể tạo ra các vật liệu có hoạt tính quang cao hơn, từ đó nâng cao khả năng xử lý ô nhiễm trong môi trường.

II. Nghiên cứu vật liệu nano TiO2 kết hợp với CNT ZnO SiO2

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hợp TiO2 với CNT có thể tạo ra các hệ xúc tác có hoạt tính quang cao hơn. CNT không chỉ giúp tăng cường khả năng dẫn điện mà còn cải thiện khả năng hấp thụ ánh sáng trong vùng khả kiến. Các thí nghiệm cho thấy rằng sự hiện diện của CNT trong hệ TiO2/CNT có thể làm giảm tỷ lệ tái kết hợp của điện tử và lỗ trống, từ đó nâng cao hiệu suất quang xúc tác. Bên cạnh đó, việc sử dụng ZnOSiO2 làm chất mang cũng cho thấy tiềm năng trong việc cải thiện hoạt tính quang của TiO2. Các nghiên cứu cho thấy rằng ZnO có thể tạo ra các giai đoạn trung gian giúp tăng cường quá trình quang xúc tác, trong khi SiO2 có thể cải thiện độ bền và tính ổn định của xúc tác.

2.1. Tính chất quang của hệ vật liệu tổ hợp

Các hệ vật liệu tổ hợp như TiO2/CNT, TiO2/ZnO và TiO2/SiO2 đã được nghiên cứu để đánh giá hoạt tính quang của chúng. Kết quả cho thấy rằng các hệ này có khả năng hấp thụ ánh sáng tốt hơn so với TiO2 đơn thuần. Việc kết hợp với CNT giúp tăng cường khả năng dẫn điện và giảm thiểu sự tái kết hợp của điện tử và lỗ trống, trong khi ZnOSiO2 cung cấp các tính chất bổ sung giúp cải thiện hiệu suất quang xúc tác. Các thí nghiệm cho thấy rằng hệ TiO2/CNT có thể đạt được hiệu suất quang xúc tác cao hơn 30% so với TiO2 đơn thuần, cho thấy tiềm năng ứng dụng lớn trong xử lý ô nhiễm môi trường.

III. Ứng dụng thực tiễn của vật liệu nano trong xử lý ô nhiễm

Vật liệu nano như TiO2, CNT, ZnO, và SiO2 đã cho thấy tiềm năng lớn trong việc xử lý ô nhiễm môi trường. Quá trình quang xúc tác sử dụng ánh sáng để phân hủy các hợp chất hữu cơ độc hại trong nước và không khí. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ TiO2/CNT có thể phân hủy hiệu quả các hợp chất như methylene blue (MB) trong nước thải. Việc sử dụng các vật liệu này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn có thể tái sử dụng sau khi xử lý, góp phần vào việc phát triển bền vững. Hệ thống quang xúc tác này có thể được áp dụng trong các nhà máy xử lý nước thải, giúp cải thiện chất lượng nước và bảo vệ môi trường.

3.1. Hiệu quả xử lý nước thải

Nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng hệ xúc tác TiO2/CNT trong xử lý nước thải có thể đạt được hiệu suất cao trong việc phân hủy các hợp chất hữu cơ. Các thí nghiệm cho thấy rằng sau 60 phút xử lý, nồng độ MB trong nước thải giảm đáng kể, cho thấy khả năng xử lý hiệu quả của hệ xúc tác này. Hệ thống này có thể hoạt động hiệu quả trong điều kiện ánh sáng tự nhiên, giúp tiết kiệm năng lượng và giảm chi phí vận hành. Điều này mở ra cơ hội cho việc áp dụng công nghệ quang xúc tác trong các hệ thống xử lý nước thải quy mô lớn, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ XÚC TÁC QUANG HOÁ TRÊN CƠ SỞ TiO2 1. Cấu trúc và tính chất của Titan đioxit TiO2 thuộc phân nhóm IVB của oxit kim loại chuyển tiếp. TiO2 tồn tại dưới 3 dạng tinh thể đó là brookite (orthorhombic), anatase (teragonal), rutile (tetragonal), nhưng chủ yếu vẫn là hai dạng là anatase và rutile.

Cả hai dạng thù hình đều chứa Ti dưới dạng TiO6-, trong đó Ti4+ được bao quanh bởi sáu ion O2-, tạo nên tinh thể có cấu trúc dạng bát diện. Sự khác nhau của các dạng tinh thể chính là mức độ biến dạng cấu trúc bát diện và sự kết hợp của các cấu tử trong cấu trúc bát diện. Đối với rutile, cấu trúc bát diện bị biến dạng nhẹ ở dạng trực thoi, còn đối với dạng anatase thì thể bát diện bị biến dạng khá nhiều vì vậy tính đối xứng của nó kém hơn dạng trực thoi. Trong anatase liên kết Ti-Ti dài hơn trong khi liên kết Ti-O lại ngắn hơn so với rutile.

Trong cấu trúc rutile mỗi mặt bát diện của tinh thể này lại tiếp xúc với 10 mặt bát diện của 10 đơn vị tinh thể xung quanh. Còn trong cấu trúc anatase, mỗi mặt bát diện của tinh thể này lại tiếp xúc với 8 mặt bát diện của 8 đơn vị tinh thể xung quanh. Chính sự khác biệt trên đã dẫn đến sự khác nhau về mật độ khối lượng và năng lượng vùng cấm của 2 dạng tinh thể của TiO2.1: Cấu trúc tinh thể TiO2 dạng anatase (a) và rutile (b) với chấm xám là nguyên tử Ti, chấm trắng là nguyên tử O TiO2 trơ về mặt hoá học, đặc biệt là dạng đã nung. TiO2 tan không đáng kể trong dung dịch kiềm, không phản ứng với dung dịch kiềm, amoniac, các axit hữu cơ, vô cơ.

3 luan an TiO2 bị phân huỷ ở 2000oC và phản ứng với oxit kim loại, hợp chất cacbonat ở nhiệt độ cao. Do đó, TiO2 thường được đưa thêm các thành phần kim loại, hoặc phi kim vào mạng tinh thể, đặc biệt là pha anatas với hy vọng tạo ra một hợp chất có tính chất điện, từ và quang có ưu điểm vượt trội hơn so với cấu trúc ban đầu. 2 TiO2  Ti2O3 + ½ O2 (T > 2000oC) TiO2 + MCO3  (MTi)O3 + CO2 (M = Ca, Mg, Sr, Ba) TiO2 + MO  (MTi)O3 (M = Pb, Mn, Fe, Co) TiO2 bị H2SO4 đặc nóng, HF phân huỷ: TiO2 + H2SO4(đ,n)  Ti(SO4)2 + 2 H2O TiO2 + HF  H2SiF6 +2 H2O TiO2 bị hydro, CO, titan kim loại khử ở nhiệt độ cao: TiO2 + H2  Ti2O3 + H2O TiO2 + CO  Ti2O3 + CO2 TiO2 + Ti  Ti2O3 1. Cơ chế của phản ứng quang hoá trên cơ sở TiO2 Quá trình xúc tác quang dị thể có thể được tiến hành ở pha khí hoặc pha lỏng.

Cũng giống như các quá trình xúc tác dị thể khác, quá trình xúc tác quang dị thể được chia thành 6 giai đoạn như sau: - Giai đoạn 1: Các tác chất được khuếch tán từ pha lỏng hoặc khí đến bề mặt xúc tác; - Giai đoạn 2: Các chất tham gia phản ứng được hấp phụ lên bề mặt xúc tác; - Giai đoạn 3: Chất xúc tác hấp phụ photon, các electron trong vùng hoá trị chuyển từ trạng thái cơ bản sang trạng thái kích. Tại giai đoạn này, phản ứng xúc tác quang hóa khác với phản ứng xúc tác truyền thống ở cách hoạt hóa xúc tác. Trong phản ứng xúc tác truyền thống, xúc tác được hoạt hóa bởi nhiệt còn trong phản ứng xúc tác quang hóa, xúc tác được hoạt hóa bởi sự hấp thụ ánh sáng; 4 luan an - Giai đoạn 4: Phản ứng quang hóa, bao gồm hai giai đoạn: o Phản ứng quang hóa sơ cấp, trong đó các phân tử bị kích thích (các phân tử chất bán dẫn) tham gia trực tiếp vào phản ứng với các chất bị hấp phụ; o Phản ứng quang hóa thứ cấp, còn gọi là giai đoạn phản ứng “tối” hay phản ứng nhiệt, đó là giai đoạn phản ứng của các sản phẩm thuộc giai đoạn sơ cấp. - Giai đoạn 5: Nhả hấp phụ các sản phẩm; - Giai đoạn 6: Khuếch tán các sản phẩm vào pha khí hoặc lỏng.

Trường hợp, các phân tử chất hữu cơ và vô cơ bị hấp phụ trước lên bề mặt chất xúc tác bán dẫn (SC) sẽ tạo điều kiện cho quá trình luân chuyển điện tử diễn ra dễ dàng hơn. Khi đó các điện tử quang sinh ở vùng dẫn sẽ chuyển đến nơi có các phân tử có khả năng nhận electron (A) và quá trình khử xảy ra, còn các lỗ trống sẽ chuyển đến nơi có các phân tử có khả năng cho electron (D) để thực hiện phản ứng oxy hóa. Cơ chế quang xúc tác dị thể trên cơ sở TiO2 được trình bày trên hình 1.2: Cơ chế xúc tác quang dị thể 5 luan an Các sản phẩm trung gian A-(ads) và D+(ads) sau khi được hình thành sẽ phản ứng với nhau qua một chuỗi các phản ứng trung gian, sau đó cho ra các sản phẩm cuối cùng. Như vậy, quá trình hấp thụ photon của chất xúc tác là giai đoạn khởi đầu cho toàn bộ chuỗi phản ứng.

Trong quá trình quang xúc tác, hiệu suất lượng tử sẽ bị giảm khi điện tử quang sinh tái kết hợp với lỗ trống quang sinh: e- + h+ (SC) +E Trong đó: (SC) là tâm bán dẫn trung hòa E là năng lượng được giải phóng dưới dạng bức xạ điện từ (hv’≤ hv). Như đã trình bày ở trên, TiO2 ở dạng anatas có hoạt tính quang hóa cao hơn hẳn so với các dạng tinh thể còn lại, điều này được giải thích dựa vào cấu trúc vùng năng lượng. Như chúng ta đã biết, trong cấu trúc của chất rắn có 3 miền năng lượng là vùng hóa trị, vùng cấm và vùng bán dẫn. Tất cả các hiện tượng hóa học xảy ra đều là do sự chuyển dịch electron giữa các miền với nhau.

Anatas có năng lượng vùng cấm là 3,2 eV, tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 388 nm, rutile có năng lượng vùng cấm là 3,0 eV, tương đương với một lượng tử ánh sáng có bước sóng 413 nm. Giản đồ năng lượng của TiO2 dạng anatas và rutil được chỉ ra trong hình 1.3: Giản đồ miền năng lượng của hai dạng anatas và rutile 6 luan an Từ hình 1.3 cho thấy, vùng hóa trị của anatas và rutile có giá trị xấp xỉ bằng nhau và dương. Như vậy, khi TiO2 được kích thích bởi ánh sáng có bước sóng thích hợp, các electron trong vùng hóa trị bị kích thích, chuyển từ vùng hoá trị lên vùng dẫn, đồng thời tạo ra một lỗ trống trong vùng hoá trị. Các electron khác có thể nhảy vào vị trí này để bão hòa điện tích tại đó đồng thời tạo ra một lỗ trống mới ngay tại vị trí mà nó vừa đi khỏi.

Như vậy, lỗ trống mang điện tích dương có thể tự do chuyển động trong vùng hóa trị. Thế oxi hoá của lỗ trống sinh ra trên bề mặt TiO2 là 2,53 (V) so với điện cực chuẩn hydro trong dung dịch có pH=7, lỗ trống này dễ dàng tác dụng với OH- hoặc nước để tạo thành gốc hydroxyl tự do, đây là một tác nhân oxy hoá mạnh, tham gia vào quá trình quang xúc tác. TiO2(h+) + H2O  OH• + H+ + TiO2 TiO2(h+) + OH- OH• + TiO2 TiO2(h+) + RX RX+ + TiO2 Thế oxy hoá khử của electron quang sinh trên vùng dẫn sinh ra tại bề mặt TiO2 là -0,52(V), đủ âm để có thể khử phân tử oxy thành anion superoxit: TiO2(e-) + O2  •O2- +TiO2 • O2 - + H +  HO2• 2HO2•  H2 O2 + O 2 TiO2 (e-) +H2O2  HO• + HO- +TiO2 H 2 O2 + O 2  O2 + HO• + HO- Các phản ứng ở vùng dẫn và vùng hoá trị với sự tham gia của điện tử quang sinh và lỗ trống đã tạo ra các tác nhân oxy hoá mạnh như •HO, •O-2, H2O2, và oxy. Đây là các tiểu phân hoạt động, dễ dàng tham gia phản ứng với các hợp chất hữu cơ sinh ra CO2 và nước.

Sự khác biệt giữa anatas và rutil thể hiện ở đặc điểm, dạng anatas có khả năng khử O2 thành O2- còn rutile thì không, do đó anatas có khả năng nhận đồng thời oxi và hơi nước từ không khí cùng ánh sáng tử ngoại để phân hủy các hợp chất hữu cơ. Tinh thể anatas dưới tác dụng của ánh sáng tử ngoại đóng vai trò như một cầu nối trung chuyển 7 luan an điện tử từ H2O sang O2, chuyển hai chất này sang dạng O2- và OH• là hai dạng có hoạt tính oxi hóa cao có khả năng phân hủy chất hữu cơ thành H2O và CO2. Dưới đây là bảng thế oxy hoá của các tác nhân oxy hoá.1: Thế oxy hoá của một số tác nhân oxy hoá Tác nhân oxy hoá Thế oxy hoá (V) Flo 3,03 Lỗ trống vùng hoá trị của anatas và rutile 3,00 OH• 2,80 Oxi nguyên tử 2,42 O3 2,07 H2 O2 1,78 Clo 1,36 H2 0,00 Electron vùng dẫn của rutile 0,00 Electron vùng dẫn của anatas -0,15 Tốc độ và hiệu quả của các quá trình quang xúc tác phân huỷ các chất hữu cơ được tăng cường nhờ sự tham gia của oxi. Sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ oxi được giải thích là do sự hấp phụ và giải hấp phụ của oxi cả trong quá trình chiếu xạ và không chiếu xạ bề mặt xúc tác.

Phân tử oxi đóng vai trò như tâm bắt bẫy điện tử vùng dẫn đã ngăn chặn hoàn toàn hoặc một phần sự tái hợp của cặp e-/h+ cùng với việc tạo thành một tác nhân oxi hoá hiệu quả là anion superoxit. Động học quá trình phân huỷ quang hoá tuân theo phương trình Langmuir- Hinshelwood: sự thay đổi tốc độ phản ứng r tỉ lệ với phần bề mặt bị che phủ bởi chất phản ứng. Đối với dung dịch loãng, phản ứng có dạng động học bậc nhất, trong khi đó đối với nồng độ cao, tốc độ phản ứng là cực đại và có dạng động học bậc không. Do bản chất quang hoạt của quá trình quang hóa xúc tác là các hạt mang điện quang sinh e-/h+ tham gia vào cơ chế phản ứng nên tốc độ phản ứng của quá trình quang 8 luan an hoá xúc tác tỉ lệ với cường độ bức xạ trong vùng UV-A: tốc độ quá trình quang hoá tăng một cách tuyến tính (bậc nhất) cùng với cường độ bức xạ trong khoảng 0-20 mW/cm2.

Khi cường độ bức xạ vượt qua một giá trị nhất định (khoảng 25 mW/cm2), tốc độ quá trình quang hoá xúc tác tỉ lệ lũy thừa bậc ½ của cường độ bức xạ. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xúc tác quang của nano TiO2 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu hoạt tính quang xúc tác của các vật liệu nano TiO2, CNT, ZnO, SiO2" của tác giả Phạm Minh Tứ, dưới sự hướng dẫn của GS. Vũ Thị Thu Hà, được thực hiện tại Viện Hóa Học Công Nghiệp Việt Nam vào năm 2019. Bài nghiên cứu tập trung vào việc khám phá và đánh giá hoạt tính quang xúc tác của các vật liệu nano, đặc biệt là TiO2, CNT, ZnO và SiO2. Những vật liệu này có tiềm năng ứng dụng lớn trong lĩnh vực xử lý nước và không khí, cũng như trong các công nghệ năng lượng tái tạo. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách mà các vật liệu nano này có thể cải thiện hiệu suất xúc tác quang, từ đó mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến vật liệu nano và xúc tác, hãy tham khảo thêm các bài viết sau: "Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride""Nghiên cứu tổng hợp vật liệu Cu2O-TiO2-RGO và đánh giá hoạt tính quang xúc tác". Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực xúc tác quang.