Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG NỘI THƯƠNG 1. Một số khái niệm 1. Thương mại Thương mại là ngành có lịch sử lâu đời và hiện là một trong những hoạt động kinh tế quan trọng hàng đầu của khu vực dịch vụ. Cho đến nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về thương mại.
Trong các công trình nghiên cứu đó, các tác giả đã cố gắng đưa ra những khái niệm về thương mại từ những góc độ nghiên cứu khác nhau. Tựu chung lại trong các khái niệm đó đều hàm chứa ý nghĩa thương mại là hoạt động trao đổi hành hóa hay dịch vụ giữa bên mua và bên bán. Thương mại tiếng Anh là “ Trade”, vừa có nghĩa là kinh doanh, vừa có nghĩa là trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng một thuật ngữ nữa là “Business” hoặc “Commerce” với nghĩa buôn bán hàng hóa, kinh doanh hàng hóa hay mậu dịch.
Tiếng Pháp cũng có từ “thương mại” là “Commerce” vừa có nghĩa là mua bán hàng hóa dịch vụ. Tiếng Latinh từ “thương mại” là “Commeriume” vừa có nghĩa là mua bán hàng hóa, vừa có nghĩa là hoạt động kinh doanh… Như vậy, khái niệm thương mại cần được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.[17] Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh, được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
là lĩnh vực phân phối, lưu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi là ngoại thương (kinh doanh quốc tế). Nội thương Nội thương là hoạt động thương mại diễn ra trong phạm vi biên giới của một quốc gia (thương mại nội địa). Trong hoạt động nội thương, chỉ tiêu TMBLHH và DTDVTD được coi là một thước đo quan trọng để đánh gia hiệu quả hoạt động.[16] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Hàng hóa Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi mua bán. Hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Hàng hóa là một phạm trù lịch sử, xuất hiện và tồn tại khi có phân công lao động xã hội với những chủ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất hoặc những chủ thể kinh doanh. Thị trường Thị trường, trong kinh tế học và kinh doanh, là nơi người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ.
Đó là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm và dịch vụ.[17] Thị trường, trong kinh tế học và kinh doanh, là nơi người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ. Đó là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm và dịch vụ. Thị trường hoạt động theo quy luật cung cầu. Cung là số lượng có để bán hoặc số lượng mà người bán sẵn lòng bán ở một giá xác định.
Lý thuyết về cung cầu và điểm cân bằng là lý thuyết trung tâm của kinh tế học. Đường cong (D) biểu diễn như cầu tăng lên khi giảm giá, còn đường cong (S) chỉ ra sự kết hợp giữa giá cả và số lượng sản phẩm mà tại đó cả người mua và người bán đều thỏa thuận. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả có thể thay đổi nhanh chóng do sự thay đổi trong quan hệ cung- cầu. về mặt lý thuyết, khi cung lớn hơn cầu, thì người sản xuất phải giảm giá, ngược lại khi cung nhỏ hơn cầu thì người mua sẽ đẩy giá lên do họ cạnh tranh nhau để mua được hàng.
Lượng hàng hóa ra bằng lượng hành khách mua và sự cung cầu như vậy luôn luôn cân bằng. Quy luật cung cầu quy định giá cả chỉ trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, nhưng trên thực tế, trong nhiều trường hợp các chính phủ can thiệp làm hạn chế quy luật này.[16] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Vai trò, chức năng của nội thương. Vai trò Nội thương là một trong hai phân ngành của thương mại, làm nhiệm vụ và trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong một quốc gia.
Là một bộ phận của nền kinh tế nội thương đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Hoạt động nội thương là điều kiện để thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Thông qua hoạt động buôn bán trên thị trường, nhà sản xuất được cung cấp nguyên liệu, vật tư, máy móc và tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Đối với người tiêu dùng, hoạt động nội thương không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của họ mà họ còn có tác dụng tạo ra thị hiếu mới, nhu cầu mới.
Điều đó đảm bảo cho quá trình sản xuất được bình thường, thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, lưu thông hàng hóa và dịch vụ trong nước được thông suốt. Thông qua các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi… hoạt động nội thương có vai trò rất lớn trong việc hướng dẫn tiêu dùng, tạo ra các tập quán tiêu dùng mới. Hoạt động nội thương có vai trò rất lớn trong phân công lao động theo lãnh thổ giữa các vùng trong nước. Đó là vì mỗi vùng tham gia vào quá trình phân công lao động theo lãnh thổ bằng cách sản xuất ra những sản phẩm hàng hóa dựa trên các lợi thế so sánh của mình để cung cấp cho các vùng khác, đồng thời lại tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhập từ ngoài vùng.
Phân công lao động theo lãnh thổ càng sâu sắc thì thương mại nói chung và nội thương nói riêng càng phát triển và ngược lại. Trong hoạt động nội thương có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường trong mua bán hàng hóa, dịch vụ. Quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh là quan hệ bình đẳng, thuận mua vừa bán, nói cách khác là quan hệ được tiền tệ hóa. Vì vậy, trong hoạt động buôn bán đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự năng động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy cải tiến, phát huy sáng kiến để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.
Điều đó góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh. Chức năng Chức năng của mỗi ngành kinh tế là một phạm trù khách quan, được hình thành trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất và trình độ phân công lao động xã hội. Ở nước ta, nội thương có những chức năng cơ bản sau đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c - Tổ chức quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ trong nước. Đây là chức năng xã hội của ngoại thương, đòi hỏi phải nghiên cứu và nắm vững nhu cầu cảu thị trường, nhu cầu của xã hội, thiết lập hợp lý các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân và thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ trong quá trình kinh doanh.
- Thông qua quà trình lưu thông hàng hóa, nội thương thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong lưu thông hàng hóa. Thực hiện chức năng này, nội thương phải tổ chức công tác vận chuyển hàng hóa, tiếp nhận, bảo quản, phân loại và lồng ghép đồng bộ hàng hóa,… - Thông qua hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa trong nước, nội thương thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, góp phần tăng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước, từ đó làm cơ sở đẩy mạnh hoạt động ngoại thương, gắn kết thị trường trong nước với thị trường quốc tế. - Nội thương thực hiện chức năng chuyển hóa hình thái giá trị của hàng hóa, dịch vụ (từ giá trị sang giá trị sử dụng). Đây là chức năng quan trọng nhằm đáp ứng tốt mọi nhu cầu sản xuất và đời sống, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng.
Đặc điểm chính của nội thương Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hóa, các yếu tố của sản xuất (như đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm và dịch vụ tạo ra, chất xám,…) đều là đối tượng mua bán và trở thành hàng hóa. Nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là nền kinh tế hỗn hợp vừa có cơ chế tự điều chỉnh của thị trường và vừa có cơ chế quản lý, điều tiết của Nhà nước. Trong điều kiện như vậy, nội thương có những đặc điểm cơ bản sau: - Phát triển trao đổi hàng hóa và dịch vụ trong nước dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần, bao gồm kinh tế Nhà nước, kinh tế ngoài Nhà nước (kinh tế cá thể và tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước), kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. - Phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản lý của Nhà nước.
Buôn bán theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết được hết những vấn đề do Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c chính cơ chế đó và bản thân hoạt động thương mại, dịch vụ tạo ra như vấn đề thương mại với môi trường, nhu cầu kinh doanh với các nhu cầu xã hội, hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại… Sự quản lí của nhà nước được thực hiện bằng luật pháp và các chính sách, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển.