CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành và phát triển qua nhiều năm gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế. Mặc dù trải qua lịch sử phát triển lâu dài nhưng cho đến nay, việc đưa ra một khái niệm cụ thể về Ngân hàng thương mại thì vẫn còn là điều gây nhiều tranh cãi của các nhà Kinh tế. Bởi lĩnh vực ngân hàng tài chính là một lĩnh vực đặc thù, tại mỗi một thời điểm khác nhau thì khái niệm lại có những thay đổi.
Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh tế thường xuyên thực hiện các hoạt động thuộc các lĩnh vực cung cấp tiền tệ, dịch vụ tài chính giữa khách hàng và ngân hàng hoặc ngược lại [6]. Theo cách tiếp cận trên phương diện những sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp thì “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tổ chức tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức nào trong nền kinh tế”[7]. Theo Luật Các tổ chức tín dụng của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá 12 ban hành ngày 29/06/2010 thì Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: - Nhận tiền gửi- Cấp tín dụng - Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản [8] Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và mang lại lợi nhuận thì đòi hỏi NHTM phải có một lượng vốn hoạt động nhất định. Các nhà kinh tế học đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: “Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”[9] 7 Thực chất, vốn của Ngân hàng là phần của thu nhập quốc dân, khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, thương mại và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng gửi vào Ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư.
Nói cách khác, họ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho Ngân hàng, để Ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập. Như vậy, vai trò của NHTM là thực hiện tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh ngân hàng. Huy động vốn là hình thức tiếp nhận các tài sản có giá trị của các cá nhân, tổ chức thông qua nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, chẳng hạn như: Vay vốn, huy động vốn, phát hành, chào bán chứng khoán, liên doanh, liên kết trong và ngoài nước, ….
Các hình thức huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi 1.1 Phân loại theo tiêu thức kỳ hạn. - Tiền gửi không kỳ hạn: Đây là khoản tiền gửi không xác định kỳ hạn, người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào, do đó lãi suất huy động thường thấp. Tiền gửi không kỳ hạn là một trong những nguồn vốn biến động nhiều nhất và ngân hàng khó có thể dự báo về quy mô tiền gửi không kỳ hạn có thể huy động được.
Hình thức này chủ yếu là dành cho các doanh nghiệp, do các doanh nghiệp giữ tiền tại ngân hàng mục đích chính không phải để nhận lãi mà là để hưởng các dịch vụ mà sử dụng các dịch vụ ngân hàng cung cấp như dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, thu chi hộ,. Ngoài ra, tiền gửi không kỳ hạn có thể đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự định rõ ràng trong tương lai, hoặc không thực sự an tâm về việc gửi tiền mà chỉ mong muốn nhận được một số tiền lãi nào đó với lượng tiền hiện còn nhàn rỗi. 8 Do tính chất không ổn định của nó nên ngân hàng chỉ được sử dụng một tỷ lệ nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được, các ngân hàng thường phải dự tính về sự ổn định tương đối và tiến hành trích lập dự phòng cho lượng tiền này. Do vậy, quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần quan trọng của quản lý dự trữ trong các ngân hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi được tạo nên từ sự thoả thuận giữa người gửi tiền và ngân hàng về lượng tiền, kỳ hạn, lãi suất của khoản tiền gửi. Do có sự xác định rõ ràng về kỳ hạn, nên nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn tiền có sự ổn định cao, ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn tương ứng hoặc có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn. Chính vì lý do này mà lãi suất huy động của các khoản tiền gửi kỳ hạn thường cao hơn nhiều lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Bởi vì mục đích chính của việc gửi tiền vào ngân hàng là tiền lãi.
Thông thường thì lãi suất tỷ lệ thuận với kỳ hạn, tức là thời gian gửi tiền càng lâu thì lãi suất càng cao và ngược lại. Phân loại theo tiêu thức mục đích sử dụng - Tiền gửi tiết kiệm: Phần lớn là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng có mục đích là tìm kiếm một khoản thu nhập. Thường thì mỗi khoản tiền gửi tiết kiệm có khối lượng nhỏ, thời hạn ngắn. Những người gửi tiền tiết kiệm là những đối tượng giảm chi tiêu trong hiện tại hoặc có tiền nhàn rỗi nhưng chưa tìm được kênh đầu tư nào khác an toàn hơn kênh gửi tiền vào Ngân hàng.- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Loại hình này khá phổ biến ở các nước phát triển, thường được sử dụng với những hộ có thu nhập thấp và trung bình.
Người gửi để dành một khoản tiền gửi vào ngân hàng (thường là các khoản tiết kiệm đều đặn định kỳ) với ý định tích luỹ tiền cho một mục đích nhất định. Đây là hình thức huy động vốn trung và dài hạn khá hiệu quả, có tính ổn định, lãi suất không cao, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ cho người dân mua sắm nhà cửa, phương tiện. - Tiền gửi thanh toán: Là khoản gửi của các cá nhân, tổ chức. Họ gửi tiền mục đích không phải là để hưởng thu nhập từ lãi mà là để sử dụng các dịch vụ của ngân hàng.
Khi các khoản tiền này tạm thời chưa dùng đến thì ngân hàng có thể sử dụng vào các loại hình kinh doanh có kỳ hạn ngắn. Phân loại theo tiêu thức loại tiền gửi - Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi quan trọng của các ngân hàng, nó phụ thuộc vào thu nhập trong nước và chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng lượng tiền gửi. - Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh tiền gửi nội tệ thì ngân hàng còn nhận tiền gửi dưới dạng ngoại tệ như USD, JPY, EUR,. những khoản ngoại tệ này cũng rất quan trọng cho hoạt động ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế.2 Huy động vốn qua thông qua việc nghiệp vụ đi vay 1.1 Phát hành các công cụ nợ Các NHTM vay vốn của dưới hình thức phát hành các loại giấy tờ có giá như: - Trái phiếu ngân hàng: Đây là một công cụ vay nợ dài hạn của ngân hàng từ thị trường chứng khoán.
Thời hạn vay từ hai năm trở lên. Công cụ này có thể mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán khi chưa đáo hạn. - Kỳ phiếu: Kỳ phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh doanh xác định của ngân hàng như một dự án, một chương trình kinh tế. - Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng: Là loại chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn và thời gian đáo hạn không quá sáu tháng.
Loại chứng chỉ này có thể mua đi bán lại trên thị trường khi chưa đáo hạn. Vay vốn từ ngân hàng trung ương Bất kỳ NHTM nào khi được NHTW cho phép thành lập hoạt động đều được hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt để tránh khủng hoảng và mất khả năng thanh khoản của NHTM. NHTW cấp tín dụng cho các NHTM thông qua các hình thức: Tái chiết khấu, tái cấp vốn và cho vay thế chấp (ứng trước) các giấy tờ có giá. Vay ngắn từ các tổ chức tín dụng khác 10 Mục đích của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc trong ngắn hạn hoặc đáp ứng nhu cầu kinh doanh của ngân hàng.
Trong hoạt động mỗi ngày, có những thời điểm ngân hàn cho vay quá nhiều dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại NHTW. NHTM có thể vay các NHTM khác thừa dự trữ. Trong trường hợp các ngân hàng cần vốn để đầu tư hoặc chi trả cho khách hàng, các NHTM cũng có thể vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng. Các khoản vay từ công ty mẹ Tại các nước phát triển, một công ty hoặc một tập đoàn kinh doanh có thể là chủ của một đến rất nhiều NHTM.
Thay vì ngân hàng phát hành trái phiếu hoặc giấy nợ để huy động tiền của thị trường bằng các hình thức kể trên. Việc này có thể chịu nhiều sự quản lý và ràng buộc của NHTW về dự trữ, lãi suất và kể cả thủ tục. Các công ty mẹ của ngân hàng có thể thay thế NHTM làm việc đó dưới hình thức phát hành trái phiếu, cổ phiếu công ty hoặc các loại thương phiếu, rồi chuyển vốn đã huy động được về cho ngân hàng hoạt động. Trong trường hợp NHTW hạn chế NHTM phát hành trái phiếu hoặc phát hành được với chi phí rất cao thì việc công ty mẹ phát hành trái phiếu là cách tốt nhất để NHTM đạt những mục đích ấy.
Chính vì thế hầu như ở tất cả các nước phát triển, các NHTM thường là công ty con của một tập đoàn, công ty tài chính hoặc ít nhất là có quan hệ mật thiết với các đối tượng trên.