CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC THÍ NGHIỆM KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 1.1 Khái niệm chất lượng công trình xây dựng 1.1 Khái niệm, đặc điểm chất lượng Theo định nghĩa của tiêu chuẩn ISO9001:2008 thì “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Chúng ta làm rõ các nội dung của định nghĩa này: + Thứ nhất “các yêu cầu” – dưới góc độ là một tổ chức, một công ty hay doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong một môi trường nhất định thì các yêu cầu có thể là các yêu cầu bên ngoài, các yêu cầu bên trong. Các yêu cầu bên ngoài theo nghĩa hẹp có thể bao gồm: yêu cầu của luật pháp, yêu cầu của khách hàng, yêu cầu của công nghệ, yêu cầu cạnh tranh với các đối thủ.hay xét theo nghĩa rộng là các yêu cầu xuất phát từ môi trường bên ngoài. Các yêu cầu bên trong là các yêu cầu của doanh nghiệp như: yêu cầu kỹ thuật đối với sản phẩm, yêu cầu xuất phát từ năng lực con người, năng lực công nghệ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các yêu cầu thêm vào cho sản phẩm hay dịch vụ đảm bảo độ tin cậy hay tăng khả năng cạnh tranh.Như vậy, khi một sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hay quá trình đáp ứng được các yêu cầu này thì được gọi là chất lượng phù hợp, nếu mức độ đáp ứng thấp hơn thì là chất lượng thấp, cao hơn là chất lượng cao.
+ Ý thứ hai: “đặc tính vốn có”. Đó là đặc tính vốn có của sản phẩm chứ không phải các đặc tính thêm vào sản phẩm. Ví dụ, khi chúng ta lắp trần thạch cao trong nhà thì rõ ràng sau một thời trần nhà sẽ bị cong vênh, bong tróc, rêu mốc do đó sản phẩm thạch cao không có đặc tính chống lại tác động bên ngoài, chống ẩm thấp, rêu mốc và các điều kiện khí hậu bên ngoài điều này vô hình chung đem lại sự kỳ vọng của khách hàng sử dụng và sản phẩm cao hơn những gì gọi là vốn có của nó, do đó, sản phẩm đó không gọi là có chất lượng phù hợp. + Còn một khía cạnh nữa cần phải xét đến, khi xét đến chất lượng, thường chúng ta sẽ phải sử dụng từ “chất lượng phù hợp” chứ không phải chất lượng tốt hay chất lượng không tốt.
Vì bản chất chất lượng của sản phẩm phù hợp với các yêu cầu đối với một môi trường bên ngoài và bên trong nhất định chứ không phải mọi môi trường. Ví dụ 4 cát bẩn hoặc nhiễm mặn không thể bền vững trong một trường biển, nhà gỗ không thể gọi là có độ an toàn cao trong phòng chống cháy… [1] 1.2 Khái niệm chất lượng công trình xây dựng Căn cứ vào nhiệm vụ mà công trình phải đáp ứng, người thiết kế xây dựng lên bản đồ thiết kế. Một bản đồ án thiết kế đúng, trong đó đã đáp ứng được về công năng và về kiến trúc cũng như các điều kiện kỹ thuật và kinh tế xây dựng công trình. Kèm theo bản đồ án thiết kế là văn bản quy định các điều kiện kỹ thuật, trong đó thể hiện các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể khi thi công phải đạt được đồng thời trong đó đề ra các phương pháp đánh giá làm cơ sở nghiệm thu công trình.
Như vậy có thể hiểu chất lượng công trình là một khái niệm mang tính chất quy ước. Các chỉ tiêu kỹ thuật của công trình đạt được theo yêu cầu của bản đồ án thiết kế mới hoàn công là các chỉ tiêu đánh giá chất lượng ban đầu của công trình. Công trình xây dựng là một loại hàng hóa đặc biệt, nó khác với những hàng hóa thông thường, hàng hóa thông thường khi mua hàng nguời bán và nguời mua sẽ biết sản phẩm cụ thể như thế nào thông qua sản phẩm thực tế hoặc theo mẫu. Nhưng với công trình xây dựng thì cả người bán và người mua (nhà thầu và chủ đầu tư) đều chưa biết sản phẩm sẽ ra sao, mà chỉ mua bán dựa vào bản thiết kế, do đó để có những sản phẩm là những công trình hoàn thành giống như bản thiết kế thì các đơn vị liên quan cần phải tuân thủ theo các yêu cầu và phải có quy trình kiểm soát chặt chẽ chất lượng từ tất cả các khâu, tuân theo quy định của các văn bản pháp luật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy phạm chuyên ngành.
Các chỉ số kỹ thuật đạt được của công trình hoặc một kết cấu công trình thay đổi theo thời gian. Các khái niệm sự ăn mòn của thép, sức chịu tải của cọc, tuổi thọ công trình .là những ví dụ giải thích điều này. Thông số kỹ thuật ứng với chất lượng của công trình suy giảm thì khả năng chịu lực cũng bị suy giảm. Khả năng chịu lực “hiện hữu” của công trình hoặc một cấu kiện tại một thời điểm nào đó thể hiện “trạng thái kỹ thuật công trình”.
Hai đặc tính vốn có của công trình xây dựng là: Đặc tính mỹ thuật và đặc tính kỹ thuật. Đây là các đặc tính được tạo nên bởi tập hợp các nhân tố cấu thành công trình xây 5 dựng: Con người, vật liệu, các yếu tố tự nhiên (cảnh quan, khí hậu, địch họa. Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Từ khái niệm tổng quan này, chất lượng công trình xây dựng thường bao gồm các yêu cầu cần có của một công trình xây dựng (các điều kiện cần và đủ để đảm bảo chất lượng) mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu vì lợi ích của xã hội và chủ đầu tư (sự phù hợp). Ngay trong yêu cầu đảm bảo chất lượng đã bao gồm không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật, chất lượng mà còn an toàn về nhu cầu, công năng sử dụng các yếu tố kinh tế kỹ thuật.
Một công trình có chất lượng quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không đẹp, không phù hợp kiến trúc tổng thể, không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình xây dựng, ngược lại một công trình đẹp mang tính thẩm mĩ cao chưa chắc đã đảm bảo an toàn, chất lượng. Một công trình xây dựng chỉ đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư hoặc chủ sở hữu nhưng vi phạm quy hoạch, kiến trúc đô thị, mỹ quan, ảnh hưởng môi trường. thì cũng không thể coi là công trình có chất lượng.1 Các yếu tố cơ bản của chất lượng công trình xây dựng Vì vậy, để công trình xây dựng có chất lượng phù hợp thì phải thoả mãn các yêu cầu về mỹ thuật, kỹ thuật và kinh tế. thì công trình xây dựng cần được kiểm soát chặt chẽ các yếu tố đầu vào (Chuẩn bị đầu tư) và các yếu tố đầu ra (quá trình thi công nghiệm thu, quá trình sử dụng.
Nói cách khác, để có một công trình xây dựng đảm bảo chất lượng cần có phương án kiến trúc đẹp, đồ án thiết kế tốt, được thi công bởi các kỹ sư và công nhân lành nghề, vật liệu 6 sử dụng đảm bảo, ứng xử của con người với công trình phủ hợp và không bị thiên tai, bão lũ, địch họa, hỏa hoạn phá hủy. Sản phẩm công trình xây dựng mang tính chất của hàng hóa đặc biệt, khác với hàng hóa thông thường khi mua hàng người ta mua bán hàng hóa có sẵn hoặc theo mẫu nhưng với công trình xây dựng thì cả người mua (chủ đầu tư) và người bán (nhà thầu) đều chưa biết sản phẩm cụ thể ra sao mà chỉ mua bán dựa theo tưởng tượng (đồ án thiết kế) do vậy, để sản phẩm (công trình xây dựng hoàn thành) giống như những gì dự kiến (đồ án thiết kế) thì cả người mua và người bán cần tuân thủ các yêu cầu và quy trình kiểm soát đã được nghiên cứu và xây dựng thành pháp luật hoặc các quy phạm, tiêu chuẩn chuyên ngành.2 Khái niệm công tác Thí nghiệm, Kiểm định chất lượng công trình xây dựng 1.1 Khái niệm công tác Thí nghiệm Thí nghiệm công trình là hoạt động đo lường nhằm xác định đặc thù tính chất của đất xây dựng, vật liệu xây dựng, môi trường xây dựng, sản phẩm xây dựng, bộ phận, các cấu kiện công trình hoặc công trình xây dựng theo quy trình nhất định. [3] Nhiệm vụ cơ bản của nghiên cứu thực nghiệm nói chung, thí nghiệm công trình nói riêng là phát hiện, phân tích, đánh giá và rút ra những kết luận về khả năng làm việc thực tế - độ cứng, độ bền, độ ổn định và tuổi thọ của kết cấu công trình để so sánh với những kết quả đã tính toán bằng các phương pháp tính lý thuyết. Trong nhiều trường hợp, kết quả của Nghiên cứu thực nghiệm còn thay thế được lời giải của các bài toán đặc thù, phức tạp mà nếu sử dụng các phương pháp lý thuyết sẽ mất quá nhiều công sức, thậm chí không giải quyết được.
Từ kết quả của Nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện các phương pháp tính đã có và có thể phát minh ra phương pháp tính mới cho kết quả có độ chính xác cao hơn.1 Các phương pháp thí nghiệm công trình xây dựng - Căn cứ theo mức độ biến dạng: của vật liệu thí nghiệm, phân chia phương pháp thí nghiệm thành 2 nhóm: thí nghiệm phá hoại và thí nghiệm không phá hoại + Thí nghiệm phá hoại: là phương pháp tiêu chuẩn để xác định tính chất cơ lý của vật liệu, khả năng chịu tải của kết cấu thí nghiệm. Gia tải vào vật liệu hoặc kết cấu thí nghiệm cho tới tải trọng giới hạn, khi đó vật liệu và kết cấu thí nghiệm bị phá hoại hoàn toàn. 7 + Thí nghiệm không phá hoại: là phương pháp gián tiếp, sử dụng các dụng cụ hay thiết bị thí nghiệm để xác định một hoặc nhiều thông số, tính chất nào đó của vật liệu hoặc kết cấu khảo sát, sau đó so sánh với các thông số, tính chất chuẩn (có giá trị xác định trước) để đánh giá chất lượng của vật liệu hay kết cấu của công trình. Các phương pháp không phá hoại thường được sử dụng trong công tác kiểm định vì quá trình thí nghiệm gần như không hư hại hoặc ảnh hưởng đến khả năng chịu tải của đối tượng khảo sát.