Chương 1: Tổng quan về Bê tông xi măng sử dụng tro bay trong xây dựng mặt đường ô tô. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp xác định các chỉ tiêu kỹ thuật của BTXM sử dụng tro bay. Chương 3: Nghiên cứu thực nghiệm hàm lượng tro bay nhiệt điện Duyên Hải - Trà Vinh để chế tạo Bê tông xi măng làm mặt đường ô tô. Phần kết luận, kiến nghị Danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BTXM SỬ DỤNG TRO BAY TRONG XÂY DỰNG MẶT ĐƢỜNG Ô TÔ.
Vị trí địa lý, điều kiện địa chất, khí hậu, thủy văn Tp. Vị trí địa lý [1]: Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên.
Phía Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng với sông Hậu. Phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển, nơi có 2 cửa sông (Cung Hầu và Định An) được xem là 2 cửa sông quan trọng thông thương đồng bằng sông Cửu Long với biển Đông, nối với cả nước và quốc tế. Do vậy, Trà Vinh có địa thế và tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng đối với ĐBSCL. Trước tình hình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, ngành giao thông vận tải đã có sự điều chỉnh định hướng phát triển phù hợp với tầm chiến lược xa hơn (20 năm) trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.
Cụ thể như: “Quy hoạch chi tiết hệ thống cảng đường thủy nội địa khu vực phía Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” theo Quyết định số 1108/QĐ-BGTVT ngày 26/04/2013 của Bộ Giao thông Vận tải; “Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải đường thủy nội địa Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” theo quyết định số 1071/QĐ-BGTVT ngày 24/4/2013 của Bộ giao thông vận tải; Quyết định 548/QĐ-TTg ngày 04/04/2013 của Thủ tướng Chính phủ về “Điều chỉnh Phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”; Quyết định số 355/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Điều chỉnh Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Quyết định số 356/QĐ-TTg ngày 25/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “điều chỉnh Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”; Trong các bản quy hoạch này, một số công trình trọng điểm của Quốc gia đi qua địa bàn tỉnh cũng đã có 6 những điều chỉnh và phát sinh mới. Để phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, lấy nền tảng nông nghiệp và tiếp tục chọn lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ làm mũi nhọn đột phá. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật cần thiết phải ưu tiên đầu tư phát triển, đặc biệt hạ tầng giao thông vận tải. Điều này đòi hỏi ngành giao thông vận tải của tỉnh phải có chiến lược phát triển trung và dài hạn phù hợp.
Giao thông vận tải phải phát triển đi trước một bước, làm tiền đề và tạo động lực cho việc phát triển kinh tế-xã hội theo các kế hoạch đã đề ra. Trong những năm qua, Trà Vinh đã có nhiều chính sách nhằm phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Từ đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, có bước phát triển, góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường và củng cố. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu đặt ra.
Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm, tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Một số chính sách xã hội được triển khai thực hiện ở nông thôn còn chậm. Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm nhanh nhưng chưa bền vững, an ninh nông thôn nhiều nơi còn diễn biến phức tạp, đời sống của một bộ phận dân cư còn nhiều khó khăn. Nhiều công trình chậm tiến độ, chi phí cao, công tác quản lý, khai thác, sử dụng dịch vụ hạ tầng còn yếu, hiệu quả thấp.
Trà Vinh là tỉnh có điểm xuất phát thấp, còn nhiều khó khăn so với các tỉnh khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là cơ sở hạ tầng, đời sống nhân dân còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao; tình trạng khai thác cát trái phép, nhất là ở các khu vực giáp ranh còn diễn biến phức tạp; khiếu kiện đông người, vượt cấp vẫn còn diễn ra. 7 Trà Vinh là một tỉnh nằm phía Đông đồng bằng sông Cửu Long, vị trí tọa độ giới hạn từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ Đông. Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre ngăn cách bởi sông Cổ Chiên (một nhánh sông Tiền), phía Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng ngăn cách bởi sông Hậu, phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông với hơn 65 km bờ biển, nơi có 2 cửa sông (Cổ Chiên và Định An).1: Bản đồ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Trà Vinh Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km đi bằng quốc lộ 53, khoảng cách chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60 và cách thành phố Cần Thơ 95 km. Điều kiện tự nhiên: 1.
Địa hình: Tỉnh Trà Vinh mang tính chất vùng đồng bằng ven biển chịu ảnh hưởng bởi sự giao thoa giữa sông và biển đã hình thành các vùng trũng, phẳng xen lẫn các giồng cát, các huyện phía Bắc địa hình bằng phẳng hơn các huyện ven biển, địa hình dọc theo 2 bờ sông thường cao, vào sâu nội đồng bị các giồng cát hình cánh cung chia cắt tạo nên các vùng trũng cục bộ xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Cao trình phổ biến của tỉnh từ 0,1 - 1,0 m chiếm 66% diện tích tự nhiên. Địa hình cao nhất trên 4 m22 gồm đỉnh các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang); Ngọc Biên (Trà Cú); Long Hữu (Duyên Hải). Địa hình thấp nhất dưới 0,4 m tập trung tại các cánh đồng trũng Tập Sơn, Ngãi 8 Xuyên (Trà Cú), Thanh Mỹ, cánh đồng Ôcàđa (Châu Thành); Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên Hải).
Khí hậu: Mang nhiều đặc điểm khí hậu của ĐBSCL, và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, chịu tác động mạnh của gió chướng. Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ánh sáng, lượng nước bốc hơi và lượng mưa được phân bổ đều khá rõ rệt giữa mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa nắng (từ thàng 11 đến tháng 4). Do ảnh hưởng của diễn biến thời tiết thay đổi phức tạp trên toàn cầu, nhiệt độ trung bình của tỉnh trong thời gian qua cũng có nhiều thay đổi. Nhiệt độ trung bình giữa các tháng biến thiên từ 26-27,60C, cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào tháng 1, sai biệt nhiệt độ trung bình giữa các tháng từ 3–50C.
Diễn biến nhiệt độ theo thời gian giữa các tháng biến thiên thấp, từ đó không ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển các loại cây trồng nhất là cây lúa. Độ ẩm trung bình 83-85%/năm, lượng mưa trung bình 1.500 mm, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ và rất thuận lợi cho đầu tư, sản xuất kinh doanh. Thủy văn: Nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất chủ yếu là 2 sông lớn: sông Cổ Chiên và sông Hậu. Ngoài các sông chính này, tỉnh còn có hệ thống sông kênh chằng chịt tạo nên hệ thống dòng chảy lưu thông trên toàn tỉnh, cung cấp nước tưới vào mùa khô và tiêu úng vào mùa lũ và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Biển Đông, có thể lợi dụng triều để tưới tiêu tự chảy.
Hàng năm có trên 90% đất tự nhiên bị nhiễm mặn với chiều dài xâm nhập của nước mặn (4gr/lít) đến 30km từ biển vào. Sự truyền mặn bắt đầu từ tháng 12 tại Hưng Mỹ trên sông Cổ Chiên và Trà Kha trên sông Hậu. Mặn lên cao nhất vào tháng 4 tại cửa Cầu Quan (sông Hậu) và cửa sông Vũng Liêm (sông Cổ Chiên). Mặn kết thúc vào tháng 6, thời gian sớm hay muộn phụ thuộc vào lượng mưa tại thượng nguồn và địa phương.
Tài nguyên thiên nhiên: - Diện tích đất: Tỉnh có 234. Trong đó, đất nông nghiệp: 185.868 ha, đất lâm nghiệp: 6.745 ha, đất chuyên dùng: 12.880 ha, đất ở nông thôn: 3.845 ha, đất ở thành thị: 566 ha, đất chưa sử dụng: 900 ha, trong đó có đất cát giồng chiếm 6,62%. - Diện tích rừng là 6.745 ha, nằm dọc bờ biển tại các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang, Trà Cú và thị xã Duyên Hải với các loại cây như: bần, đước, mắm, dừa nước, chà là,… đất bãi bồi: 1. - Diện tích đất và mặt nước nuôi trồng thủy sản khoảng 51.600 ha (diện tích nuôi tôm sú 29.
- Khoáng sản chủ yếu là những loại cát dùng trong công nghiệp và xây dựng, gồm: + Cát sông: có khả năng khai thác khoảng 60.000m3/năm + Đất sét gạch ngói: được Phân viện nghiên cứu địa chất công nhận là đạt yêu cầu dùng trong xây dựng, phục vụ cho công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng. Trữ lượng: khoảng 45,6 triệu m3. + Mỏ nước khoáng: đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia với nhiệt độ: 38,50C, khả năng khai thác khoảng 2.400 m3/ngày tại xã Long Toàn, TX. Tổng quan hệ thống giao thông vận tải tại Trà Vinh: Hệ thống giao thông vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng.
Hiện nay, Trà Vinh có hai phương thức vận tải là vận tải đường bộ và đường thủy. Đƣờng bộ: Hệ thống đường bộ của tỉnh Trà Vinh đã kết nối được từ trung tâm tỉnh đến trung tâm các huyện-thị-thành phố, cũng như kết nối Trà Vinh với các tỉnh, thành thuộc vùng ĐBSCL và cả nước, đảm bảo nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Trong thời gian qua hệ thống đường bộ trên địa bàn đã được tập trung 10 đầu tư phát triển, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều đoạn đã bắt đầu xuống cấp.