phần mở đầu, kết luận, các phụ lục, các bảng biểu. Nhu cầu bảo vệ hợp đồng trong giao dịch trực tuyến. Phƣơng pháp bảo vệ thông tin trong hợp đồng điện tử. Một số giao thức đảm bảo an toàn thông tin trong hợp đồng điện tử.
Thử nghiệm chƣơng trình. NHU CẦU BẢO VỆ HỢP ĐỒNG TRONG GIAO DỊCH TRỰC TUYẾN 1. HỢP ĐỒNG TRONG GIAO DỊCH TRỰC TUYẾN Hiện nay, giao dịch trực tuyến đang ngày một mở rộng và có thể sử dụng vào mọi thời điểm, mọi địa điểm khác nhau. Các giao dịch nhƣ: mua bán, hành chính, đào tạo, giáo dục, trong nghiên cứu.
đặc biệt là các giao dịch trong thƣơng mại điện tử - đều liên quan đến hợp đồng. Vấn đề bảo vệ thông tin trong hợp đồng là yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này. Thỏa thuận hợp đồng là việc thống nhất giữa hai bên về: Tên và địa chỉ các bên Thông điệp nêu rõ sự đồng ý trên thỏa thuận Nội dung và phạm vi công việc thực hiện / hàng hóa đƣợc mua bán Giá cả và số lƣợng hàng hóa Thời điểm và phƣơng thức giao hàng Phƣơng thức giải quyết tranh chấp, luật áp dụng và tòa thụ lý nếu có tranh tụng Bảo mật thông tin Các điều khoản chung và thời hạn hợp đồng Vậy, hợp đồng điện tử khác biệt gì so với hợp đồng truyền thống ? 1. Hợp đồng điện tử là gì ? Hợp đồng: là sự trao đổi mang tính pháp lý có sự ràng buộc bởi lời hứa hoặc thỏa thuận giữa các bên tham gia và đƣợc pháp luật công nhận.
Hợp đồng điện tử (Hợp đồng trực tuyến): là một thỏa thuận hợp đồng, thể hiện bằng các thông tin số và đƣợc ký bằng chữ ký số của các bên tham gia. Ký kết hợp đồng điện tử: là quá trình định dạng và đàm phán hợp đồng điện tử, và cũng có thể giám sát việc thực hiện hợp đồng. Đàm phán hợp đồng điện tử: là việc đàm phán trên mạng các vấn đề trong việc giải quyết tranh chấp, đồng ý các hành động, thực hiện mặc cả để đem lại lợi ích cho cá nhân hoặc tập thể, hoặc cố gắng để xây dựng các kết quả phục vụ cho lợi ích chung của tất cả các bên tham gia. Quy trình ký kết hợp đồng điện tử Theo nghĩa rộng, ký kết hợp đồng điện tử có thể đƣợc mô tả nhƣ một quá trình mà theo đó các hoạt động sau đây diễn ra hoàn toàn trong môi trƣờng điện tử: • Các bên đề nghị một hợp đồng thƣơng lƣợng và hình thức hợp đồng của họ, thông qua việc sử dụng một phƣơng pháp giao tiếp điện tử; z 14 • Một khi hợp đồng đã đƣợc hình thành, các bên sẽ quản lý hợp đồng thông qua các phƣơng tiện điện tử.
Ví dụ, các bên có thể sử dụng một hệ thống cộng tác trực tuyến để giao tiếp với nhau, cung cấp các thông báo hợp đồng, đồng ý sửa đổi hợp đồng, thay đổi kế hoạch dự án và phê duyệt dự án; • Sau khi hoàn thành hợp đồng, hồ sơ dự án có liên quan và thông tin liên lạc đƣợc lƣu trữ bằng cách sử dụng phƣơng tiện lƣu trữ điện tử (trái ngƣợc với hợp đồng truyền thống là dựa trên phƣơng pháp lƣu trữ hồ sơ). Mỗi giai đoạn của quá trình ký kết hợp đồng điện tử (nhƣ đã nêu ở trên) làm phát sinh một số vấn đề về pháp lý và rủi ro an ninh. Nguyên tắc pháp lý Trên một mức độ cơ bản, hợp đồng là một thỏa thuận giữa các bên và đƣợc pháp luật thực thi. Hợp đồng điện tử chỉ đơn giản đƣợc mô tả nhƣ một hợp đồng đã đƣợc hình thành thông qua việc sử dụng các thông tin điện tử.
Theo luật chung, năm yếu tố cơ bản sau đây phải có mặt trƣớc khi pháp luật thực thi hợp đồng (Willmott, Christensen & Butler 2005): • Cung cấp; • Chấp nhận cung cấp; • Chắc chắn: Từ quan điểm khách quan, pháp luật phải xác định đƣợc những gì mà các bên tham gia đã thoả thuận; • Ý định: Từ quan điểm khách quan, các bên phải xác định rằng, các ý định của họ sau khi đƣợc đƣa ra thỏa thuận sẽ bị ràng buộc pháp lý; • Xem xét: Với một hợp đồng đƣợc thực thi, nó phải đƣợc hỗ trợ và đi kèm với các điều khoản. Xem xét có thể đƣợc hiểu là mức giá phải trả khi chống lại (hay không thực hiện) một lời hứa. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật đối với hợp đồng đã đƣợc phát triển trong những năm qua dƣới các quyết định của Toà án. Các xu hƣớng tƣ pháp hiện nay cho thấy rằng những nguyên tắc này sẽ áp dụng cho tất cả các hợp đồng bất kể cho dù nó đƣợc đƣợc tạo ra bằng điện tử, bằng miệng hoặc thông qua các thông tin liên lạc trên giấy.
Vậy với nhiều vấn đề phát sinh liên quan đến những nguyên tắc hợp đồng truyền thống sẽ đƣợc áp dụng nhƣ thế nào với các hình thức hợp đồng điện tử của công nghệ hiện nay. Hiện nay, ở Việt Nam, luật giao dịch thƣơng mại điện tử (TMĐT) đã ra đời với mục đích tạo nên một hành lang pháp lý cho các giao dịch điện tử và để có thể tiếp cận với những công nghệ mới. Mục đích chung của bộ luật này là để cung cấp một khuôn khổ pháp lý nhƣ sau: z 15 a/. Nhận ra tầm quan trọng của nền kinh tế thông tin với tƣơng lai kinh tế và sự thịnh vƣợng xã hội; b/.
Tạo điều kiện cho việc sử dụng giao dịch điện tử; c/. Thúc đẩy sự tự tin kinh doanh và cộng đồng trong việc sử dụng các giao dịch điện tử; d/. Cho phép doanh nghiệp, cộng đồng có thể sử dụng thông tin điện tử để giao dịch với chính phủ. Để có hiệu lực cho những mục tiêu này, cần dựa trên hai nguyên tắc cơ bản: chức năng tương đương (có nghĩa là đối xử bình đẳng cho cả hai hình thức giao dịch trên giấy và trên giao dịch điện tử) và trung lập công nghệ (có nghĩa là pháp luật sẽ không phân biệt đối xử giữa các loại hình khác nhau của công nghệ).
Theo đó, khi xem xét áp dụng các hợp đồng điện tử, phải cho phép các vấn đề sau đây đƣợc đáp ứng: • Yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản; • Cho phép cung cấp thông tin bằng văn bản; • Yêu cầu cho chữ ký; • Yêu cầu tạo ra tài liệu; • Cho phép tạo ra tài liệu ; • Yêu cầu ghi lại thông tin bằng văn bản; • Yêu cầu giữ tài liệu bằng văn bản hoặc thông tin liên lạc điện tử. Tuy nhiên, sự đan xen giữa đạo luật trong pháp luật truyền thống và những đạo luật mới trong giao dịch điện tử này đã phát sinh những rủi ro về mặt pháp lý và nhiều điểm mất an toàn. Yêu cầu bảo mật Trong khi các yêu cầu bảo vệ thông tin của thƣơng mại điện tử và kinh doanh điện tử nói chung đã đƣợc đƣa ra (Knorr năm 2001, Rohrig 2004), thì yêu cầu an ninh trong hệ thống hợp đồng điện tử lại chƣa đƣợc kiểm tra chặt chẽ. Một hệ thống ký kết hợp đồng điện tử phải thoả mãn các mục tiêu an ninh sau: • Độ tin cậy: Đảm bảo việc bảo vệ hồ sơ điện tử trong ký kết hợp đồng, từ việc tránh tiết lộ trái phép hoặc sử dụng thông tin trái phép.
Danh tính của các bên đƣợc ủy quyền sẽ đƣợc xác định bởi thỏa thuận giữa các bên ký kết. • Tính toàn vẹn: Tính toàn vẹn của hồ sơ điện tử đảm bảo rằng hợp đồng sẽ không bị sao chép, sửa đổi hoặc xóa bỏ thông tin. z 16 • Tính xác thực: Xác thực bảo đảm rằng các bên đƣợc phép mới có thể sử dụng hoặc truy cập vào hệ thống ký kết hợp đồng điện tử. Các bên ký kết hợp đồng chứng thực bản thân thông qua hệ thống ký hợp đồng và các thông tin của họ cần đƣợc ghi lại và duy trì.
• Chống chối cãi: Trong trƣờng hợp sử dụng các giao thức chống chối cãi, các bên không thể phủ nhận đƣợc các hành động và thời gian thực hiện các hành động mà họ tham gia. Ví dụ, một bên không thể phủ nhận có ký kết hợp đồng, gửi hoặc nhận đƣợc một tin nhắn hoặc cập nhật một bản ghi điện tử. • Tính sẵn sàng: Sẵn sàng đảm bảo rằng hệ thống ký kết hợp đồng và hồ sơ điện tử có liên quan đến hợp đồng luôn trong trạng thái sẵn sàng để các bên có thẩm quyền có thể sử dụng khi có yêu cầu. THỰC TRẠNG AN TOÀN THÔNG TIN TRONG CÁC HỢP ĐỒNG ĐIỆN TỬ Các rủi ro về mặt pháp lý và an ninh liên quan đến hợp đồng điện tử có thể xảy ra nhƣ sau: • Thời gian hợp đồng điện tử đƣợc hình thành có thể không chính xác.
• Địa điểm hợp đồng điện tử đƣợc hình thành có thể không xác định. • Cơ quan của cá nhân tham gia hợp đồng có thể không có thật. • Thông tin liên lạc điện tử có thể không đáp ứng các yêu cầu về luật định đối với một số hợp đồng bằng văn bản. • Thông tin liên lạc điện tử có thể không đáp ứng đƣợc các yêu cầu về luật định đối với một số hợp đồng đƣợc ký kết.
• Tùy thuộc vào các điều khoản của hợp đồng, có thể không chắc chắn rằng các thông báo điện tử đƣa ra là hợp lệ. • Khi hệ thống hợp tác bị gián đoạn có thể gây ra những can thiệp trái phép với các dự án. • Công nghệ không tƣơng thích có thể đƣợc sử dụng bởi các bên ký kết hợp đồng khác nhau. • Tranh chấp có thể phát sinh giữa các nhà cung cấp hệ thống hợp tác trực tuyến và các bên ký kết hợp đồng, liên quan đến việc sử dụng hệ thống.
• Tranh chấp có thể phát sinh giữa các bên ký kết hợp đồng liên quan đến việc sử dụng hệ thống. • Tranh chấp có thể phát sinh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, liên quan với dự án. • Bí mật của hồ sơ điện tử có thể bị tổn hại trong quá trình trao đổi hoặc lƣu giữ thông tin. • Hồ sơ điện tử đƣợc tạo ra và duy trì bởi một hệ thống có thể không đƣợc chấp nhận tại tòa án làm bằng chứng trong trƣờng hợp tranh chấp.
• Hồ sơ điện tử đƣợc tạo ra và duy trì bởi một hệ thống có thể không đƣợc coi trọng bằng chứng từ tƣơng tự nhƣ hồ sơ giấy. • Có thể có khó khăn trong việc chứng minh thời gian, mà tại đó một bản ghi điện tử đã đƣợc truyền đi.