mở đầu bằng việc ghi về khoa danh cũng như sự nghiệp của “Binh bộ Thượng thư Thái phó Tấn Quốc Công – Trịnh Mô, Chính Trị niên5” (兵 部 尚 書 太 傅 晋 國 公鄭 摸 正 治 年), tuy vậy theo các sách về đăng khoa lục cũng như Văn bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám không thấy ghi tên Nguyễn Cảnh Hoan6. Đông Yên nhị huyện khoa lục phổ (東 安 二 縣 科 錄 譜), được biên soạn vào năm Khải Định thứ 10 (1925)7. Cuốn sách ghi chép về khoa bảng của huyện Diễn Châu và Yên Thành (Nghệ An) cũng như hành trạng của các nhà khoa bảng. Cuốn sách cũng là một nguồn tư liệu bổ sung cho chúng tôi khi làm luận án.
Ngoài những tư liệu đã nói ở trên, chúng ta còn có thể kể đến: Từ Liêm đại khoa lục (慈 廉大科 錄), Từ Liêm huyện đăng khoa chí (慈 廉 縣 登 科 志)8 Hà Tĩnh nhân vật chí (河 靜 人 物 志), Hà Tĩnh tập biên (河 靜 集 編)9, Thanh 3 Sách được PGS.TS Nguyễn Tá Nhí sưu tầm và dịch, Nxb Khoa học Xã hội, 1999. 4 Tư liệu của chúng tôi do ông Đào Tam Tỉnh – nguyên Giám đốc Thư viện Nghệ An cung cấp. 5 Chính Trị là niên hiệu của vua Lê Anh Tông từ năm 1558 đến năm 1571 6 Nguyễn Cảnh Hoan sau được ban họ Trịnh – Trịnh Mô 7 Bản gốc hiện đang được lưu giữ tại dòng họ Trần xã Công Thành, Yên Thành. Tư liệu của chúng tôi do ông Đào Tam Tỉnh – nguyên Giám đốc Thư viện Nghệ An cung cấp.
8 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.2869 9 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.3118 10 Chương huyện chí (清 漳 縣 志)10… Đây là những sách có ghi chép về hành trạng của các nhà khoa bảng. Ô Châu cận lục (烏 州 近 錄) của Dương Văn An biên soạn vào niên hiệu Cảnh Lịch (1548 - 1553), đời vua Mạc Tuyên Tông. Đây là tập sách ghi chép về vùng Thuận Hóa. Cuốn sách cũng cung cấp tư liệu về một số vị khoa bảng của vùng đất này.
Để thực hiện luận án, tác giả có sử dụng tư liệu của một số bộ biên niên sử như: Đại Việt sử ký toàn thư (大 越 史 記 全 書) của Ngô Sĩ Liên và sử thần triều Lê, Đại Việt thông sử (大 越 通 史) của Lê Quý Đôn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (欽 定 越 史 通 鑑 綱 目) của Quốc sử quán triều Nguyễn… Đại Việt sử ký toàn thư là bộ sử có giá trị được khắc in lần đầu tiên vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) đời vua Lê Hy Tông. Bộ sử này là kết quả của một quá trình biên soạn, tu bổ qua nhiều đời như: Lê Văn Hưu đời Trần, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh đời Lê sơ đến Phạm Công Trứ, Lê Hy. đời Lê Trung hưng. Đại Việt sử ký toàn thư gồm quyển thủ và 24 quyển ghi chép từ lịch sử dân tộc từ họ Hồng Bàng đến năm 1675.
Đại Việt sử ký toàn thư đã thu thập tư liệu và trình bày theo lối biên niên. Đây không chỉ là nguồn tư liệu gốc của sử học mà còn là tư liệu cho nhiều ngành khoa học xã hội. Những sự kiện liên quan về giáo dục, khoa cử từ năm 1527 đến năm 1592 cũng được ghi chép khi nhắc đến các khoa thi. Đại Việt thông sử hay còn gọi là Lê triều thông sử là bộ sử của Lê Quý Đôn, không chỉ ghi chép các vị vua triều Lê sơ từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng mà ghi chép khá đầy đủ các vị vua của triều Mạc từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Mục Tông.
Đây là sách sử học đầu tiên của nước ta được ghi chép theo lối kỷ truyện. Khi viết cuốn sử này, Lê Quý Đôn sử dụng tư liệu gia phả của một số dòng họ lớn cùng với bi ký về các công thần, vì thế những sự kiện mà ông ghi chép có độ tin cậy cao. 10 Sách hiện lưu giữa tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu VHv.2557 11 Cùng ghi chép về những sự kiện liên quan đến nhà Mạc cũng như nhà Lê Trung hưng thời kỳ ở Thanh Hóa nói chung và khoa cử nói riêng, nếu như Đại Việt sử ký toàn thư còn có sự nhầm lẫn ở một số kiện và có phần định kiến với nhà Mạc thì Đại Việt thông sử lại ghi chép về nhà Mạc khá khách quan. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (gọi tắt là Cương mục) của Quốc sử quán triều Nguyễn làm từ năm Tự Đức thứ 9 (1856) đến năm Tự Đức thứ 34 (1881), in xong năm Kiến Phúc thứ nhất (1884).
Bộ Cương mục với 52 quyển được chia làm hai phần: Tiền biên và Chính biên. Tiền biên ghi chép từ thời Hùng Vương đến Mười hai Sứ quân; Chính biên ghi chép từ thời Đinh Tiên Hoàng đến Lê Mẫn Đế (1786-1789)11. Cương mục cũng cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin về giáo dục, khoa cử nước ta từ năm 1527 đến năm 1592. Việt sử diễn âm (越 史 演 音) là một tác phẩm viết theo thể diễn ca về lịch sử nước ta từ thời vua Hùng cho đến thời Mạc.
Sách chép tay khổ 32x22cm, 114 trang, được lưu giữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB. Tuy sách không ghi niên đại cũng như tên tác giả nhưng dựa vào quan điểm cũng như ngôn ngữ văn tự, chúng ta có thể đoán định tác giả Việt sử diễn âm là người thời Mạc [117, tr. Quan điểm của tác giả khá khách quan tôn trọng sự thật lịch sử khi dành hẳn 370 câu để ca ngợi công lao của nhà Lê sơ đối với lịch dân tộc, đặc biệt là công lao của Lê Thái Tổ trong khởi nghĩa Lam Sơn… Việt sử diễn âm là một nguồn tư liệu quý giúp chúng ta tìm hiểu đánh giá về vương triều Mạc. Một số tác phẩm ghi chép tổng hợp như: Kiến văn tiểu lục (見 聞 小 錄) của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí (歷 朝 獻 彰 類 誌) của Phan Huy Chú cũng là một nguồn tư liệu quan trọng để tác giả có một cái nhìn so sánh đối chiếu về bức tranh của giáo dục khoa cử Đại Việt (1527 - 1592).
Trong Lịch triều hiến chương loại chí ở phần Khoa mục chí, Phan Huy Chú đã khảo về cách thức tổ 11 Lê Mẫn Đế (黎 愍 帝): là vị vua thứ 16 của triều Lê Trung hưng. Ông có tên là Lê Duy Khiêm (黎維 謙), sau khi lên ngôi đổi tên là Lê Duy Kỳ (黎 維 祁), giữ ngôi từ tháng 8 năm 1786 đến tháng 2 năm 1789. 12 chức khoa cử Nho học từ đời Lý đến đời Lê Trung hưng cũng như thể lệ thi Hương, thi Hội, thi Đình, ban yến, vinh quy… cũng như số người đỗ đạt trong các khoa thi. Khoa mục chí đã cung cấp cho tác giả luận án nhiều tư liệu về chế độ khoa cử, những người thi đỗ Tiến sĩ từ triều Lê Trung hưng trở về trước.
Địa phương chí tỉnh Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm, Địa phương chí tỉnh Hải Dương qua tư liệu Hán Nôm cũng nêu lên hành trạng và đóng góp của các nhà khoa bảng ở Hải Dương, ở Bắc Ninh thời Nam – Bắc triều. Đây là một nguồn tư liệu quan trọng mà tác giả sử dụng khi thực hiện luận án. Gia phả cũng là nguồn tư liệu được tác giả sử dụng trong luận án. Hiện nay một số dòng họ còn lưu giữ được gia phả có ghi chép về hành trạng của của các bậc đỗ đại khoa trong dòng họ như gia phả của dòng họ Dương ở Lạc Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên.
Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ ba cuốn gia phả ghi chép bằng chữ Hán của dòng họ Dương ở xã Lạc Đạo. Quyển thứ nhất có tên là: Đại Nam Kinh Bắc trấn Dương Thị thế phả (大 南 京 北 鎮 楊 氏 世 譜), ký hiệu A.1000 với dung lượng 364 trang; Quyển thứ hai có tên là Dương tộc gia phả (楊 族 家 譜), ký hiệu A.1008 có dung lượng 222 trang; Quyển thứ ba có tên là Dương tộc gia phả (楊 族 家 譜), ký hiệu A.1657 với dung lượng 203 trang. Cả ba quyển này đều ghi chép về gia phả họ Dương ở xã Lạc Đạo mà Trạng nguyên Dương Phúc Tư là thủy tổ. Trong các cuốn phả này có ghi chi tiết về tiểu sử và hành trạng của Trạng nguyên Dương Phúc Tư và bài Văn sách đình đối của ông.
Mạc sử diễn âm (莫 史 演 音), sách chép tay, 23 trang, khổ 25x16, sách viết bằng chữ Nôm, được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A. Đây là cuốn sách diễn âm lịch sử của họ Mạc từ Mạc Thái Tổ đến Mạc Mục Tông. Tuy cuốn sách không ghi rõ niên đại nhưng dựa vào nội dung sách thì chúng ta có thể đoán định sách được viết khoảng sau năm 1831. Trong sách có nhắc đến đơn vị hành chính cấp tỉnh là tỉnh Hải Dương.
Đơn vị hành chính cấp tỉnh chỉ xuất hiện 13 sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh vào năm 1831. Tác giả cuốn sách đứng trên quan điểm của sử gia Lê Trịnh khi viết về nhà Mạc, nên giữ thái độ phê phán rất gay gắt việc nhà Mạc soán ngôi nhà Lê sơ. Gia phả dòng họ Bùi ở Thượng Trưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc có chép biểu tấu của Tiến sĩ Bùi Hoằng dâng lên Mạc Thái Tổ (1527 – 1529) và Mạc Thái Tông (1530 – 1540) bày kế sách đối phó với nhà Minh. Gia phả họ Đinh ở Hưng Trung, Hưng Nguyên, Nghệ An do Cử nhân Đinh Bạt Như biên soạn vào năm Minh Mệnh thứ 11 (1830).
Gia phả họ Đinh có ghi chép về hành trạng của Đinh Bạt Tụy cũng như sắc phong của Đinh Bạt Tụy - đỗ Chế khoa năm 1554, là người có công lao trong sự nghiệp trung hưng của nhà Lê. Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích (武 族 世 係 事 跡)12 của nhóm tác giả Vũ Phương Lan13, Vũ Thế Nho, Vũ Tông Hải, Vũ Huy Đĩnh. Dựa trên những tư liệu ghi chép của tổ tiên cũng như gia phả trước đó mà nhóm tác giả Vũ Phương Lan, Vũ Thế Nho, Vũ Tông Hải, Vũ Huy Đĩnh đã xây dựng thành một bộ gia phả có dẫn giải tường tận thế thế thứ, sự tích của các nhân vật họ Vũ. Lê thị gia phả sự tích ký (黎 氏 家 譜 事 跡 記) sách chép tay được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia, ký hiệu R.2442 gồm 60 trang, khổ 31 x 21cm.