CHƯƠNG 1: HIỆN TƯỢNG QUÁ ĐIỆN ÁP VÀ CÂN BẰNG CÔNG SUẤT PHẢN KHÁNG TRÊN HỆ THỐNG ĐIỆN 1. Khảo sát về quá điện áp trong hệ thống điện Quá điện áp là một trong những nguyên nhân phổ biến gây nên hư hỏng các thiết bị điện trong hệ thống điện và làm giảm hiệu quả cung cấp điện liên tục của hệ thống phân phối. Dạng quá điện áp nguy hiểm nhất thường là do sét đánh trực tiếp hoặc gián tiếp, ngoài ra quá điện áp còn có thể được gây ra do các thao tác vận hành trong hệ thống điện. Quá điện áp khí quyển do sét [6] Một vùng từ trường được sinh ra tại khu vực xảy ra hiện tượng sét đánh, tác động lên các đường dây truyền tải điện hoặc trực tiếp lên các hệ thống phân phối tạo nên quá điện áp trong hệ thống điện, thậm chí ngay cả khi sét đánh vào các hệ thống bảo vệ chống sét trực tiếp cũng có thể gây ra quá điện áp trong hệ thống điện lân cận.
Quá điện áp do sét đánh trực tiếp lên đường dây truyền tải Khi sét đánh vào dây dẫn pha, nó tạo ra một dòng điện là I(t), độ lớn của sóng điện áp là: 5 I va Z ag. 2 Điện áp cảm ứng giữa pha a và dây nối đất g là: vag va vg (1.2) Có thể vượt quá mức chịu đựng của cách điện, gây ra hiện tượng phóng điện và xuất hiện ngắn mạch 1 pha chạm đất. Hơn thế nữa, nếu điện áp cảm ứng: I vab Z ab .3) 2 Vượt quá mức chịu đựng của cách điện giữa pha a và b, thì sẽ xuất hiện phóng điện giữa 2 pha và gây ra ngắn mạch 2 pha. Quá điện áp có thể xuất hiện khi sét đánh lên hệ thống chống sét trực tiếp Khi sét đánh vào dây chống sét hoặc cột điện, điện áp cảm ứng vga vg va có thể vượt quá mức độ cách điện và gây ra phóng điện.3 minh họa hiện tượng này.
Sét đánh trực tiếp vào dây chống sét hoặc cột điện Giả thuyết xung sét có độ lớn e(t ) I (t ).Z 0 đánh vào đỉnh cột như Hình 1. Dòng điện sét I(t) được chia thành 3 phần (cột và hai bên dây chống sét), do đó điện áp cảm ứng v(t) được tính như sau: Zg 1 e(t ) v(t ) .4) Z0 Z g 1 1 Z0 Z 0 Zg Trong đó 1 1 1 2 1 Reff , Zg 1 1 1 2 1 Zn R Z0 Z g Z0 Zn R (1.5) Reff: tổng trở sóng tác động Z0: tổng trở sống của sét khi qua không khí R: tổng trở sóng của cột Zg: tổng trở sóng của các đường dây nối đất/kết cấu cột Zn Z gw / n , Zgw, Zn là tổng trở sóng của dây nối đất và của n cú đánh. - Quá điện áp do cảm ứng dòng điện sét: Khi sét đánh vào một điểm trên mặt đất gần đường dây truyền tải điện, điện áp cảm ứng do hiện tượng sét đánh đặt lên đường dây có thể gây quá áp. 7 Hiện tượng quá áp này được gọi là quá điện áp cảm ứng dòng điện sét.
Hiện tượng cảm ứng dòng điện sét Hình 1.4 minh họa hiện tượng cảm ứng dòng điện sét. Hiện tượng này có thể được tưởng tượng như có một sợi dây nối liền đám mây tích điện với đất và có một dòng điện xung I(t) đóng đột ngột vào đường dây. Bên cạnh đó, đường dây ảo này lại có điện cảm móc vòng và điện dung móc vòng với dây dẫn và dây nối đất của đường dây trên không. Do đó sẽ xuất hiện điện áp cảm ứng điện dung cũng như điện áp cảm ứng điện cảm.
Quá điện áp do hiệu ứng Ferranti [2] Trong hệ thống điện, khi không tải hoặc tải nhỏ, chỉ có một dòng rất nhỏ chạy trên đường dây. Trong khi đó, điện dung ký sinh trên đường dây, đặc biệt với các đường dây dài lại có giá trị khá lớn. Việc này sẽ sinh ra quá áp trên đường dây, hay còn gọi là hiệu ứng Ferranti. Điện áp cuối đường dây có thể tăng gấp đôi điện áp nguồn tới (trong trường hợp đường dây rất dài).
Giả thiết ta có một hệ thống điện đơn giản như trình bày trong Hình 1. Hệ thống điện đơn giản 8 Khi đó đồ thị vector điện áp tại điểm đầu và cuối của đường dây có thể xảy ra một trong hai trường hợp như trong Hình 1. Đồ thị vector điện áp nút Nhìn vào đồ thị, khi hệ số công suất âm, điện áp nhận được ở cuối đường dây vr sẽ lớn hơn điện áp ở đầu đường dây vs, hiện tượng này gọi là hiện tượng Ferranti. Trong phần lớn các trường hợp, phụ tải mang tính dung gây ra bởi điện dung ký sinh trên đường dây.
Trường hợp khi hở mạch ở cuối đường dây, biểu thức điện áp như sau: Vr ( x) 1 (1.x Trong đó: ( s) ( Ls R)(Cs G) Bỏ qua thành phần R, G và s=jω, ta có: Vr 1 1 (1. LC) Như vậy, tỉ số giữa điện áp phía cuối đường dây và đầu đường dây, ngoài việc phụ thuộc vào thông số đường dây, còn phụ thuộc vào chiều dài đường dây. Hiệu ứng Ferranti Vr 1 Vs (1.8) cos(2 f LC ) Trong đó L 1mH / km, C 0, 01 F / km, f 50 Hz Hình 1.7 trình bày ví dụ về ảnh hưởng của hiện tượng Ferranti. Trong thực tế, hiện tượng này thường xuất hiện trong chế độ phụ tải cực tiểu.
Để ngăn chặn ảnh hưởng của hiện tượng này, hiện nay ở Việt Nam thường áp dụng việc đặt các kháng bù ngang ở cuối những cung đoạn đường dây siêu cao áp dài (thường là từ 300km trở lên). Quá điện áp do các thao tác vận hành trong hệ thống điện [7]: Các chuyển mạch của máy cắt, máy biến áp, động cơ và tải cảm ứng nói chung hay việc thay đổi đột ngột của tải gây ra các biến thể hiện đột ngột (di/dt), tạo ra điện áp nhất thời dâng trong hệ thống điện. Việc vận hành máy cắt và đóng cắt đường dây thường gây ra các sóng đóng cắt nguy hiểm. Hiện tượng quá điện áp do sóng đóng cắt được gọi là hiện tượng quá điện áp đóng cắt, hay quá điện áp thao tác.
Sóng đóng cắt này có các đặc điểm sau: Xuất hiện khi bất kỳ một thao tác đóng cắt máy cắt hay đường dây nào được thực hiện. Ảnh hưởng đến các phần tử xung quanh chỗ xuất hiện mà 10 không có khả năng tự phục hồi (máy phát, máy biến áp, máy cắt, cáp điện,v.v…) Là sóng quá độ ở tần số cực cao và liên tục trong thời gian dài trước khi tắt dần và biến mất. Hiếm khi tắt dần trước khi truyền đến điểm cách điện yếu. Chống sét van không thể bảo vệ các điểm cách điện yếu khỏi hiện tượng này.
Hơn thế nữa nó gây ra hiện tượng sinh nhiệt trong các điện trở phi tuyến trong chống sét van và thậm chí là phá hủy chống sét van. - Quá điện áp do đóng máy cắt Hiện tượng quá độ gây ra bởi việc đóng máy cắt tương tự như việc chèn tức thì một điện áp có giá trị e1 (0) e2 (0).1(0) vào giữa hai tiếp điểm máy cắt. Do đó, điều kiện đầu của sóng dòng điện và điện áp truyền về hai phía của máy cắt là tỉ lệ với điều kiện điện áp đầu e1 (0) e2 (0) .8 trình bày về sóng dòng điện và điện áp gây ra bởi việc đóng máy cắt. Sóng đóng máy cắt Trong đó 11 Z1 v1 (t ) Z1.e1 (0) e2 (0) Z1 Z 2 - Quá điện áp do cắt máy cắt Tương tự như hiện tượng đóng máy cắt, hiện tượng cắt máy cắt cũng giống như việc đặt vào giữa hai tiếp điểm máy cắt một nguồn dòng ban đầu.
Hiện tượng này được mô tả như Hình 1. Hiện quá độ do cắt máy cắt Tuy nhiên, cần lưu ý trong thao tác cắt máy cắt là hiện tượng phóng điện trở lại. Hiện tượng này có thể gây hỏng máy cắt và quá áp rất nguy hiểm, có thể gây hỏng cách điện cho các phần tử khác trong hệ thống. Quá điện áp cộng hưởng dao động tần số thấp [2] Hệ thống điện chứa rất nhiều phần tử có điện cảm lớn (như máy phát điện, máy biến áp, cuộn cảm.) và điện dung lớn (như đường dây tải điện, các tụ điện.) những phần tử đó tạo thành hàng loạt những mạch vòng 12 dao động phức tạp.
Trong chế độ làm việc bình thường của hệ thống, các mạch vòng đó được nối tắt bởi những phụ tải lớn và nối vào những nguồn công suất lớn nên các dao động tự do không thể phát triển được. Nhưng khi có một sự cố hoặc một thao tác nhất định nào đó khiến cho một phần các mạch vòng này bị tách ra khỏi phụ tải thì trong phần mạch đó sẽ xuất hiện dao động năng lượng do có sự phân bố lại năng lượng điện và từ trường giữa các điện dung và điện cảm của mạch. Những dao động đó trong điều kiện nhất định có thể phát sinh hiện tượng cộng hưởng. Dao động trong trạng thái cộng hưởng đưa đến quá điện áp gọi là quá điện áp cộng hưởng.
Khi một điện cảm L và một tụ điện C được nối với nhau, cộng hưởng nối tiếp và cộng hưởng song song tồn tại. Chúng ta quan tâm hiện tượng cộng hưởng của n điện áp và dòng điện điều hòa từ quan điểm quá điện áp và hiện tượng méo sóng, khi mà điều kiện sau đây xảy ra: 1 Z j 2 nfL 0 (1.10) j 2 nfC Trong đó, f là tần số cộng hưởng Hiện tượng quá điện áp gây ra khi có điều kiện trên ở tần số thấp (dưới 1kHz) chính là hiện tượng quá điện áp cộng hưởng dao động tần số thấp. Hiện tượng này có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng trên một diện rộng và lâu dài mà không hề tắt dần. Trong khi đó, hiện tượng cộng hưởng ở tần số cao hơn (lớn hơn 1kHz) lại không gây ra vấn đề về điện áp, vì sẽ bị tắt dần do tổn thất vầng quang và tổn thất dòng điện xoáy của đường dây truyền tải.
Cân bằng công suất phản kháng trên hệ thống điện Theo [4], nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng quá điện áp tạm thời là do công suất phản kháng sinh ra từ điện dung ký sinh trên đường dây truyền tải cao áp và siêu cao áp.