Chương 1: Tổng quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp đề xuất Chương 4: Ví dụ kiểm tra Chương 5: Kết luận Tài liệu tham khảo Trang 7 Luan van Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Đặc điểm của lưới điện phân phối Cấu trúc hệ thống điện truyền thống có dạng dọc, mạng phân phối sẽ nhận điện từ lưới truyền tải hoặc truyền tải phụ sau đó cung cấp đến hộ tiêu thụ điện. Mạng phân phối có cấu trúc hình tia hoặc dạng mạch vòng nhưng vận hành trong trạng thái hở. Dòng công suất trong trường hợp này đổ về từ hệ thống thông qua mạng phân phối cung cấp cho phụ tải. Vì vậy, việc truyền tải điện năng từ nhà máy điện đến hộ tiêu thụ sẽ sinh ra tổn hao trên lưới truyền tải và mạng phân phối (khoảng 10 - 15% tổng công suất của hệ thống).
Với cấu trúc mới của lưới phân phối hiện nay, do có sự tham gia của các nguồn điện phân tán (distributed generation - DG), dòng công suất không chỉ đổ về từ hệ thống truyền tải mà còn lưu thông giữa các phần của mạng phân phối với nhau, thậm chí đổ ngược về lưới truyền tải. Cấu trúc này được gọi là cấu trúc ngang. Với cấu trúc ngang có sự tham gia của các DG, lưới điện phân phối thực hiện tốt hơn nhiệm vụ cung cấp năng lượng điện đến hộ tiêu thụ đảm bảo chất lượng điện năng, độ tin cậy cung cấp điện và một số yêu cầu an toàn trong giới hạn cho phép. Đồng thời mang lại nhiều lợi ích khác như: giảm tải trên lưới điện, cải thiện điện áp, giảm tổn thất công suất và điện năng, hỗ trợ lưới điện.
Vì lý do kỹ thuật, các đường dây phân phối điện luôn được vận hành hở trong mọi trường hợp, mặc dù được thiết kế theo kiểu mạch vòng để tăng độ tin cậy cung cấp điện. Nhờ cấu trúc vận hành hở mà hệ thống relay bảo vệ chỉ cần sử dụng lọai relay quá dòng. Để tái cung cấp điện cho khách hàng sau sự cố, hầu hết các tuyến dây đều có các mạch vòng liên kết với các đường dây kế cận đựơc cung cấp từ một trạm biến áp trung gian khác hay chính từ trạm biến áp có đường dây bị sự cố. Việc khôi phục lưới điện được thực hiện thông qua các thao tác đóng/cắt các cặp khóa điện nằm trên các mạch vòng, do đó trên lưới phân phối có rất nhiều khóa điện.2 Các lý do vận hành hình tia lưới điện phân phối Khi lưới điện được vận hành hở, tổn thất năng lượng và chất lượng điện năng luôn kém hơn một lưới điện được vận hành kín.
Khi có sự cố, thời gian tái lập việc cung Trang 8 Luan van cấp điện của lưới điện vận hành hở sẽ lâu hơn do cần có thời gian chuyển tải qua các tuyến dây khác. Tuy nhiên, do tính chất khác nhau cơ bản giữa lưới phân phối và truyền tải là: - Số lượng phần tử như lộ ra, nhánh rẽ, thiết bị bù, phụ tải của lưới phân phối nhiều hơn lưới điện truyền tải từ 5-7 lần. - Có rất nhiều khách hàng tiêu thụ điện năng với công suất nhỏ và nằm trên diện rộng, nên khi có sự cố, mức độ thiệt hại do gián đọan cung cấp điện ở lưới điện phân phối gây ra cũng ít hơn so với sự cố của lưới điện truyền tải. Vì vậy lưới điện phân phối vận hành tia mặc dù có cấu trúc mạch vòng do các nguyên nhân sau: - Tổng trở của lưới điện phân phối vận hành hở lớn hơn nhiều so với vận hành vòng kín nên dòng ngắn mạch bé khi có sự cố.
Vì vậy chỉ cần chọn các thiết bị đóng cắt có dòng ngắn mạch chịu đựng và dòng ngắn mạch bé, nên mức đầu tư giảm đáng kể. - Trong vận hành hở, các relay bảo vệ lộ ra chỉ cần dùng các lọai relay đơn giản, rẻ tiền như relay quá dòng, thấp áp… mà không nhất thiết phải trang bị các lọai relay phức tạp như relay định hướng, bảo vệ khỏang cách, so lệch… nên việc phối hợp bảo vệ relay trở nên dễ dàng hơn và mức đầu tư cũng giảm xuống. - Chỉ cần dùng các cầu chì tự rơi (FCO: Fuse cut out) hay cầu chì tự rơi kết hợp cắt có tải (LBFCO: Load break fuse cut out) để bảo vệ các nhánh rẽ hình tia trên cùng một đọan trục và phối hợp với recloser để tránh sự cố thóang qua. - Do vận hành hở, nên khi có sự cố, không bị lan tràn qua các phụ tải khác.
- Do được vận hành hở, nên việc điều khiển điện áp trên từng tuyến dây dễ dàng hơn và giảm được phạm vi mất điện trong thời gian giải trừ sự cố. - Nếu chỉ xem xét giá xây dựng mới lưới điện phân phối, thì phương án kinh tế là lưới điện hình tia. Trang 9 Luan van 2.3 Tổng quan về nguồn điện phân tán (DG - Distributed Generation) Khái niệm nguồn điện phân tán đã được nêu nhiều trong các quá trình nghiên cứu về DG. Tuy nhiên các tác giả chưa đưa ra được định nghĩa chung cho khái niệm này.
Hiện nay trên thế giới cũng chưa có định nghĩa thống nhất về nguồn điện phân tán. Một số quốc gia định nghĩa nguồn điện phân tán là nguồn điện theo các thông số cơ bản như: “nguồn điện phân tán là nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo, không điều khiển tập trung.”; hoặc một số khác căn cứ theo cấp điện áp mà nguồn điện đó đấu nối vào: “nguồn điện phân tán là nguồn điện đấu nối vào lưới điện cung cấp điện trực tiếp cho phụ tải khách hàng”. Các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về nguồn điện phân tán, chủ yếu xoay quanh về đề kích cỡ và chủng loại. Các định nghĩa đó như sau: - Ban Năng Lượng Mỹ (DOE): DG là các máy phát có công suất từ vài kW đến vài chục MW.
Bao gồm: máy phát điện Biomass, turbine khí, pin mặt trời, pin nhiên liệu, turbine gió, microturbine, máy phát động cơ đốt trong và các công nghệ tích trữ năng lượng. - Viện Nghiên Cứu Năng Lượng Điện Mỹ (EPRI): DG là các máy phát có công suất từ vài kW đến 50 MW và các thiết bị tích trữ năng lượng đặt gần phụ tải, mạng phân phối hoặc truyền tải phụ dưới dạng những nguồn năng lượng phân tán. - Viện Nghiên Cứu Gas Mỹ: các máy phát có công suất từ 25 kW đến 25 MW được gọi là DG. - Thụy Điển xem các máy phát có công suất dưới 1500 kW là DG.
- Trong thị trường điện nước Anh và xứ Wales: một nhà máy điện có dung lượng nhỏ hơn 100 MW không được gọi là nguồn điện tập trung. Như vậy, DG được xem là các máy phát có công suất nhỏ hơn 100 MW. - Ở New Zealand: các bộ máy phát có công suất nhỏ hơn 5 MW thường được xem là DG. - Ở Úc: máy phát dưới 30 MW gọi là DG.
Trang 10 Luan van - Theo Hội Đồng Quốc Tế về các Hệ Thống Điện lớn (CIGRE): các nguồn điện không phải là nguồn trung tâm, được đặt gần phụ tải và nối vào mạng điện phân phối, có công suất nhỏ hơn 100 MW gọi là DG. Các loại nguồn phân tán sử dụng nhiều công nghệ khác nhau, trong đó công nghệ sử dụng máy phát truyền thống như động cơ đốt trong, tua-bin khí… và các công nghệ mới , thân thiện môi trường, đang được phát triển như pin nhiên liệu, pin mặt trời, tua-bin gió. Mỗi loại nguồn phân tán đều có những ưu điểm, hạn chế về đặc tính kĩ thuật và tính kinh tế. Sự lựa chọn công nghệ là nhân tố chính để quyết định về công suất và vị trí lắp đặt của nguồn phân tán.
Dưới đây là phân loại một số nguồn điện phân tán chính hiện có. Sơ đồ phân loại nguồn điện phân tán Một số công nghệ DG Pin mặt trời (photovoltaic - PV): Các hệ thống pin mặt trời (PV) chuyển đổi trực tiếp năng lượng mặt trời thành điện năng mà không cần đến quá trình đốt cháy hoặc tiêu thụ nhiên liệu. Công nghệ này có chi phí vận hành và bảo trì rất thấp. Công nghệ PV được sử dụng phổ biến cho các tòa nhà độc lập và các hệ thống thông tin.
PV được xem như một công nghệ tốt nhất cho các căn hộ và các ứng dụng thương mại nhỏ. Trang 11 Luan van Hiện nay, các hệ thống PV thương mại có các cấp: nhỏ (ít hơn 10 kW), trung bình (10 - 100 kW), và lớn (trên 100 kW) được nối vào hệ thống phân phối. Rào cản chính hiện nay là giá thành cao trong chi phí lắp đặt (6000 - 10000 USD/ kW). Ngoài ra, việc vận hành PV còn lệ thuộc vào độ cao lắp đặt và điều kiện thời tiết.
Giá sản xuất điện năng đối với PV là vào khoảng 0,3 USD/kWh. Giá này có thể cạnh tranh được trong các giờ tải đỉnh hoặc khi có yêu cầu cao về độ tin cậy. Công nghệ PV cũng hiệu quả khi yêu cầu về bảo vệ môi trường được đặt ra. Hệ thống PV có thể vận hành độc lập hoặc kết nối trực tiếp vào mạng phân phối.
Photovoltaic - PV - Máy Phát Turbine Gió (wind turbine - WT): Công nghệ sản xuất điện năng từ năng lượng gió sử dụng các turbine khí động, được phân chia ra các cấp như sau: Hệ thống mini công suất nhỏ hơn 10 kW; Hệ thống nhỏ có công suất từ 10 đến 100 kW; Hệ thống trung bình có công suất từ 100 đến 500 kW; Hệ thống lớn có công suất trên 500 kW. Đặc tính của turbine khí động phụ thuộc vào vận tốc của gió: Turbine có công suất định mức 40 kW tương ứng với tốc độ gió trung bình 13,4m/s, vận tốc gió cực tiểu 3,6m/s, vận tốc gió cực đại 22,3m/s. Đường kính cánh turbine là 13,2m. Trang 12 Luan van Turbine có công suất định mức 95 kW tương ứng với vận tốc gió trung bình 12,9m/s, vận tốc gió cực tiểu 5,4m/s.
Đường kính cánh turbine 11m. Turbine có công suất định mức 250 kW tương ứng vận tốc gió trung bình 17m/s, vận tốc gió cực tiểu 6,3m/s, vận tốc gió cực đại 26,8m/s. Đường kính cánh turbine 18,3m. Công nghệ WT có giá thành lắp đặt thấp và chi phí vận hành, bảo trì rất thấp, rất thích hợp với khu vực nông thôn, vùng biển là những nơi có nguồn năng lượng gió dồi dào và mạng điện phân phối còn thưa thớt.
Wind turbine – WT Pin nhiên liệu (Fuel Cell -FC): Các FC có thể chuyển đổi năng lượng hóa học thành điện năng mà không cần đến quá trình đốt cháy. Công nghệ FC được phát triển ban đầu cho ngành vũ trụ, sau đó, ngành vận tải đã xem nó như một công nghệ đầy hứa hẹn.