Chương 1 - TỔNG QUAN HỆ THỐNG THU, BIẾN ĐỔI, TRUYỀN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI Ở DẠNG TIA VIBA CÔNG SUẤT CAO VỀ TRÁI ĐẤT 1. Lịch sử phát triển Khởi đầu vào năm 1964 William C. Brown đã trình diễn một máy bay trực thăng mô hình được cung cấp điện bằng sóng viba và sau đó từ năm 1969-1973 Bill Brown trong chương trình JPL Raytheon đã phóng truyền một công suất với 30 KW ở dạng tia vi ba qua khoảng cách 1,7 km với hiệu suất đạt 84%. Kết quả thực nghiệm hiện nay khá khả quan, năm 1975 người ta đã truyền vài chuc KW tại Goldstone ở Califonia và đến năm 1997 đã truyền với công suất lớn hơn nhiều tại Grand Bassin trên đảo Reunion Island [1].
Khái niệm về SPS được đưa ra năm 1968, vì ban đầu chưa có các giải pháp đưa năng lượng về Trái đất nên được cho là phi thực tế, nó không được phát triển. Đến năm 1973 Peter Glaser đã đưa ra patent số 3.647 và các nghiên cứu khác sau này đã đưa ra kết luận về truyền năng lượng qua một khoảng cách dài từ SPS đến bề mặt Trái đất sử dụng bức xạ vi ba 2.8GHz) từ một anten rất lớn (cỡ 1 km2 ) trên SPS trong vũ trụ đến một anten có hình ellipe lớn hơn nhiều trên mặt đất (gọi là rectenna), đường kính cỡ 10km, với mật độ sóng vi ba mong muốn đạt được là (23mW/cm²), các anten của hệ thống kể trên có thể truyền một công suất từ 5 đến 10 GW. Xu thế khác muốn truyền bằng tia laser có bước sóng ngắn hơn nhiều, và có một số ưu điểm đáng kể, song bức xạ laser lại bị suy hao nhiều khi truyền qua mây và trời mưa [3,4]. Tuy nhiên giá thành của loại năng lượng này dự tính sẽ rất cao so với các nguồn năng lượng khác, nhất là phải gánh cả chi phí phóng vệ tinh lên quỹ đạo bởi tên lửa đẩy.
Để giảm chi phí phóng vệ tinh và giảm giá thành cũng như giảm khoảng cách truyền và giảm suy hao do truyền xa từ GEO, người ta còn nghĩ đến việc truyền năng lượng từ MEO và LEO. Từ năm 1978 - 1981 nhiều hội nghị khoa học công nghệ đã được tổ chức, nhiều công ty tham gia vào các dự án của NASA và NASA đã đầu tư nhiều tỷ USD. Năm 2007 Bộ quốc phòng Mỹ đã thực sự quan tâm đến vệ tinh năng lượng mặt trời và sau đó có rất nhiều dự án đã được thực hiện và thu được nhiều tiến bộ, thành quả tốt. Mô hình tổng quát hệ thống thu năng lượng mặt trời, biến đổi và truyền về Trái đất bằng chùm tia viba công suất cao Cấu thành của hệ này gồm ba phần chính, mỗi phần lại cần có các giải pháp khoa học công nghệ cao liên ngành mới có thể giải quyết được các mục tiêu đề ra, cụ thể: (LUAN.dat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dat 10 Vệ tinh năng lượng mặt trời quay trên quỹ đạo gồm một số khối thiết bị chính - Khối thiết bị thu năng lượng mặt trời, thường bao gồm hệ thống gương để hội tụ năng lượng mặt trời vào các pannel pin mặt trời có thệ thống cơ khí điều chỉnh để các pannel PV luôn hướng về phía mặt trời.
- Khối biến đổi thành năng lượng điện sau Pin mặt trời thành tia vi ba có công suất cao. Tại đây năng lượng điện cần phải khuếch đại lên tới giá trị dòng thế hiệu thích hợp ở dạng DC, hoặc AC để cung cấp cho các linh kiện vi ba để phát chùm tia có công suất cao. - Hệ thống anten phát bức xạ vi ba đặt trên vệ tinh hướng xuống đất, nơi có hệ thống anten thu. Hệ thống anten phát thường là ma trận tạo nên bởi các anten hai cực có liên kết pha, tín hiệu phát ra từ ma trận anten tạo nên một cấu hình phân bố năng lượng xác định có tương tác qua lại với nhau.
Không gian truyền dẫn năng lượng không dây Từ vệ tinh SPS đến Trái đất bao gồm không gian vũ trụ ở ngoài tầng khí quyển (có nhiệt độ áp suất thấp, có các tia vũ trụ…) và không gian của bầu khí quyển Trái đất. Cần lưu ý ở đây là quá trình truyền năng lượng không dây qua một khoảng không gian từ vũ trụ về mặt đất có các đặc tính hóa lý không đồng nhất. Bài toán này rất khó khăn, hiện chưa được giải quyết có hiệu quả xét cả về mặt lý thuyết và thực nghiệm. Để giảm khoảng cách truyền năng lượng và để giảm suy hao do truyền xa từ GEO, người ta còn nghĩ đến việc truyền năng lượng từ MEO và LEO.
Hệ thống thiết bị thu biến đổi truyền dẫn năng lượng trên mặt đất Bao gồm một hệ thống rectenna có kích thước lớn hơn nhiều hệ thống anten trên vũ trụ, vì năng lượng phát ra từ quỹ đạo GEO thường có dạng hình nón, nên ở mặt đất cần có rectenna có kích thước thích hợp mới thu nhận được hết năng lượng. Kích thước của rectenna có thể tính được khi biết kích thước của anten phát, phoảng cách truyền năng lượng không dây và một số điều kiện môi trường. Sau đây chúng ta xét chi tiết hơn một số bộ phận chính trong hệ SPS. Một số ưu nhược điểm của hệ thống vệ tinh năng lượng mặt trời so với hệ thống thu năng lượng mặt trời có trên mặt đất Các ưu điểm chính - Tại GEO không có không khí nên anten thu nhiều năng lượng mặt trời hơn.
- Không bị ảnh hưởng bởi thời tiết của Trái đất gây ra.dat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dat 11 - Tại quỹ đạo GEO, SPS có thể được chiếu sáng tới 99% thời gian (không bị che khuất bởi ban đêm) chỉ bị che khuất vài ngày vào mùa Xuân và mùa Thu. Trong khi hệ thống PV trên mặt đất chỉ thu được khoảng 1/3 năng lượng mặt trời do có chu kỳ ngày đêm hoặc do rất ít ánh nắng đạt đến PV khi sáng hoàng hôn hay khi thời tiết xấu (mưa, mây mù). - Một SPS có thể cấp năng lượng liên tục trong khi đó một hệ PV trên mặt đất lại yêu cầu bộ tích trữ năng lượng (acquy) để cung cấp năng luợng vào ban đêm. - Hệ thống PV trên mặt đất yêu cầu phải thường xuyên bảo dưỡng, trong khi đó SPS khi đã phóng lên quỹ đạo thì không cần bảo dưỡng nhiều.
- Hệ thống SPS yêu cầu diện tích nhỏ hơn khoảng 1/5 lần so với hệ thống thu năng lượng mặt trời trên mặt đất. - Hệ thống rectenna của SPS nhỏ so với các tấm pin mặt trời cho công suất tương ứng, hoặc nói cách khác khi cùng diện tích thì rectenna thu được nhiều năng lượng hơn so với PV. Một tấm panel PV hoạt động thường xuyên ở Mỹ sẽ cho trung bình từ 19 đến 56 W/m². Còn một rectenna của SPS có thể cho liên tục 230W/m2, vì vậy kích thước của rectenna yêu cầu để thu 1W chỉ bằng từ 8,2 % đến 24 % của kích thước của PV trên mặt đất [1,2].
- Hệ thống rectenna có thể làm bằng vật liệu trong suốt, thường để trên cao vài mét so với mặt đất, diện tích phía dưới vẫn có thể sử dụng vào mục đích khác. - Một hệ thống SPS có thể cấp năng lượng cho bất cứ một khu vực nào trên mặt đất, cả vùng sâu vùng xa, chỉ cần hướng anten phát về vị trí mong muốn và đặt anten thu nơi mong muốn. Các nhược điểm chính - Giá thành phóng tên lửa đưa vệ tinh SPS lên quỹ đạo khá lớn, vệ tinh càng nặng thì càng đắt. Giá phóng hiện nay lên quỹ đạo LEO cỡ từ 6.600 - 11 000 USD/kg tùy từng hãng.
Theo ước tính trong tương lai giá thành vào khoảng 400-500 USD/kg để đưa lên quỹ đạo LEO là có thể chấp nhận được. - Người ta có thể chờ đợi một SPS tạo ra bao nhiêu tiền qua việc tạo ra năng luợng. Theo các số liệu thiết kế hiện nay thì một SPS có thể tạo ra 8,75 TeraWatt-Giờ (TW.h) điện năng trên một năm hoặc 175 TW.h sau chu kì thời gian sống, ví dụ là 12 năm. Theo giá điện năm 2006 là 0,22 USD/KW.h (giá ở Anh ) thì một SPS có thể truyền năng lượng về vị trí đặt rectenna trên mặt đất là 1,93 tỷ USD một năm hay cho 38,6 tỷ USD trong khoảng thời gian sống của vệ tinh SPS.
Còn một SPS nhỏ kinh tế hơn cung cấp 4 GW thì có thể cho 154 triệu (LUAN.dat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dat 12 USD trong thời gian sống của nó. Còn nếu giá điện là 5 cent như ở Bắc Mỹ hiện nay thì một SPS cho 5 GW vào mạng ở mặt đất trong vòng 20 năm thì sẽ cho số tiền là 43,3 tỷ USD [1,2]. - Hệ thống PV trên mặt đất rẻ hơn đáng kể về phương diện lắp đặt. - Hệ thống PV trên mặt đất không đòi hỏi phát triển công nghệ mới.
Trong khi đó để đưa được SPS có trọng lượng hàng trăm tấn, kích thước hàng chục km2 lên quỹ đạo và duy trì hoạt động của hệ thống cần phải phát triển các công nghệ mới. Các thành tựu đạt được trên thế giới Khái niệm vệ tinh năng lượng mặt trời (SPS) từ khi bắt đầu được đưa ra năm 1968 đã được các nhà khoa học, các trường đại học, các viện nghiên cứu, các tập đoàn lớn, các cơ quan không gian các nước đặc biệt quan tâm, như: Đại học Kyoto Nhật Bản, Đại học La Reunion Pháp; Viện nghiên cứu Xenotech Research Mỹ; Các tập đoàn Mitsubishi Heavy Industries, Misubishi Electric, NEC, Fujitsu và Sharp Nhật Bản; BOEING Mỹ; Cơ quan không gian Mỹ NASA, Cơ quan phát triển không gian quốc gia Nhật Bản NASDA, Cơ quan vũ trụ Nhật Bản JAXA, Cơ quan hàng không vũ trụ Châu Âu. Từ đây rất nhiều dự án đã được đầu tư nghiên cứu và bước đầu triển khai, đã đạt được những thành quả nhất định, cụ thể: 1. Một số dự án của Mỹ Dự án SUN TOWER Hình 5: Mô hình SPS dự án Sun Tower Dự án khởi động vào năm 1997 xây dựng một hệ thống 6 SPS bay quanh Trái đất gọi là SUN TOWER, sản xuất điện liên tục trong 24 giờ; Quỹ đạo hoạt động MEO; Công suất phát viba 200 MW; Tần số viba 5.8GHz; Góc mở bao phủ Trái đất 60 độ; Đường kính rectenna 4 km.dat TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.dat 13 Dự án ISC (Integrated Symmetrical Concentrator) thuộc Chương trình nghiên cứu và công nghệ thám hiểm SERT Hình 6: Mô hình SPS dự án JSC Dự án khởi động năm 1997 với 2 phiên bản 24 gương và 36 gương, mỗi gương đường kính 500 m, ánh sáng phản xạ từ hệ thống gương sẽ tập trung trên mảng PV; Quỹ đạo hoạt động GEO; Công suất 1.2GW; Tần số viba 2.8GHz; Kích thước rectenna 6.