Chương 1: Tổng quan về trượt lở đất, công tác dự báo và các biện pháp giảm thiểu tác động. Chương 2: Cơ sở lý thuyết phân tích ổn định mái dốc. Chương 3: Mô hình phân tích dự đoán mặt trượt của khối trượt trung tâm thị trấn Tĩnh Túc. TỔNG QUAN VỀ TRƯỢT LỞ ĐẤT, CÔNG TÁC DỰ BÁO VÀ CÁC BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG 1.
Khái niệm trượt đất Trượt đất là một hiện tượng mất ổn định mái dốc, sườn dốc hay vách dốc (gọi chung là mái dốc) tạo ra sự dịch chuyển mái dốc (vật chất), phá hủy mọi thứ liên quan trên đường đi của chúng. Trượt đất xảy ra khi khối đất đá bị mất cân bằng, các lực gây trượt lớn hơn các lực chống trượt. Như vậy quá trình trượt đất là kết quả tác động của những điều kiện tự nhiên và nhân sinh, có thể là quá trình địa động lực, phát triển của thực vật, khí hậu, thời tiết, quá trình sử dụng đất, các hoạt động nhân sinh, cũng như tần suất, cường độ lắng đọng trầm tích và chấn động. Căn cứ vào các yếu tố tác động, đặc điểm trượt mà các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm về trượt đất khác nhau: Theo Varnes (1978) [4] thuật ngữ trượt đất bao gồm tất cả các hiện tượng khối trượt trên bề mặt dốc.
Các hiện tượng này bao gồm cả các hiện tượng không thực sự như đá đổ, đá rơi và dòng bùn đá.Đ Loomtadze (1979) [5] khối trượt là khối đất đá đã hoặc đang dịch chuyển về phía dưới sườn dốc, mái dốc do ảnh hưởng của trọng lực, áp lực thủy động, lực địa chấn và một số lực khác nữa. Sự hình thành khối trượt là kết quả của quá trình địa chất được biểu hiện ở dịch chuyển thẳng đứng và dịch chuyển ngang những khối đất đá khi đã mất ổn định.1: Mô tả các bộ phận quy ước cho một khối trượt 4 Do đặc điểm khu vực nghiên cứu, cũng như mục đích nghiên cứu nên trong phần nghiên cứu này chỉ giới hạn nghiên cứu trượt đất với các đặc điểm sau: Khối trượt xuất hiện trên sườn dốc, mái dốc có xuất hiện mặt trượt trong tầng phủ, không bao gồm các hiện tượng đá đổ, đá rơi và dòng bùn đá. Có hai loại mái dốc thường được đánh giá trong thực tế: - Mái dốc tự nhiên - Mái dốc nhân tạo (do con người tạo ra) Vấn đề trượt mái dốc có thể đưa đến hậu quả thiệt hại to lớn về tài sản, công trình xây dựng, người và của. Để đánh giá được mức độ ổn định của mái dốc thì việc ban đầu và quan trọng là đánh giá chi tiết về địa chất, chỉ tiêu cơ lý đất đá, địa hình để làm sáng tỏ các nguyên nhân và các điều kiện có thể gây ra trượt mái dốc.
Nghiên cứu đánh giá và lựa chọn các thông số đại diện cần thiết để tính toán và chúng quyết định việc lựa chọn được hệ số an toàn chấp thuận. Phân chia các loại chuyển động mái dốc Chuyển động của mái dốc tự nhiên: Ta có thể phân biệt được các loại chuyển động mái dốc tự nhiên sau [6]: - Chuyển động do lăn rơi khối đá - Chuyển động do trượt, bao gồm: + Trượt mặt phẳng. + Trượt vòng cung đơn giản. + Trượt vòng cung phức hợp.
- Chuyển động trồi xệ đất dưới tải trọng. - Chuyển động do dòng nước chảy cuốn trôi. 5 Chuyển động của mái dốc nhân tạo: Các mái dốc, do con người tạo ra, có thể gây ra chuyển động hoặc trượt chủ yếu là do hiện tượng biến dẻo bởi trọng lượng tới hạn gây ra Có thể phân loại mái dốc nhân tạo tùy theo loại công trình: - Mái dốc đào. - Mái dốc đắp, trên đất nền không chịu nén.
- Mái dốc đắp, trên đất yếu chịu nén. - Trượt tổng thể dưới tường chắn. - Ổn định mái đê và đập đất. Nguyên nhân gây mất ổn định mái dốc 1.
Cơ chế gây trượt lở Trượt lở bờ dốc, mái dốc là hiện tượng tự nhiên hết sức phức tạp, dưới tác dụng của nhiều yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Xét trên phương diện cân bằng các lực tác dụng, trượt lở bờ dốc, mái dốc xảy ra là do mất cân bằng giữa lực gây trượt và lực chống trượt của mái đất bờ. Cơ chế trượt qua một thí dụ rất đơn giản trong vật lý: Một vật nằm trên mặt nghiêng chịu tác động của hai lực ngược chiều nhau có hướng song song với mặt nghiêng: một lực kéo Fkéo tạo bởi chính trọng lượng của vật và một lực cản Fcản tạo nên bởi lực ma sát và lực dính (nếu có) trong phần tiếp xúc giữa vật thể với mặt nghiêng. Nếu Fkéo> Fcản vật sẽ trượt xuống.Sự dịch chuyển của các khối đất đá trong quá trình trượt thường xảy ra theo một hoặc nhiều mặt trượt phẳng hoặc cong (Hình 1.2) có kiến trúc đặc trưng [5].
6 WL Dtđ ngầ P = v.2: Sơ đồ các lực tác dụng lên khối trượt và giả thiết tính toán F= F = tg (v.L ct td td v.1) T Trong đó: P: Trọng lực Fct: Lực giữ trượt T: Lực gây trượt v : Thể tích khối đất [m3] : Trọng lượng thể tích đất. Nguyên nhân trực tiếp gây trượt - lở 1. Mất ổn định mái dốc do trọng lực + Mất ổn định mái dốc do gia tăng khối lượng riêng đất sườn dốc do nước mưa ngấm [6,8] Khối đất mái dốc có tiềm năng trượt do tác dụng của lực kéo theo hướng song song với mặt trượt tiềm năng. Lực kéo này tỷ lệ thuận với khối lượng của khối đất, tức là khi khối lượng riêng của đất tăng, lực kéo tăng theo tỷ lệ tăng khối lượng riêng.
Khi khối lượng riêng của đất tăng thì lực pháp tuyến với mặt trượt tiềm năng cũng tăng theo và tăng theo tỷ lệ tăng khối lượng riêng. Khi đó lực ma sát giữ khối trượt cũng tăng theo tỷ lệ tăng lực pháp tuyến, nhưng đại lượng tăng lực giữ khối trượt nhờ tăng khối lượng riêng của đất chỉ bằng đại lượng tăng lực pháp tuyến nhân với tang của góc ma sát trong có giá trị thường bé hơn 1 (do góc ma sát trong thường bé hơn 45 độ). + Mất ổn định mái dốc do hình thành khe nứt tách giãn Khe nứt tách giãn có thể được phát triển trên mặt đất cũng như sườn dốc ở những điều kiện có sự dịch chuyển theo phương ngang có cơ sở cơ học như sau. Lấy điều kiện không thoát nước, trong đất áp lực theo phương ngang có hướng về phía tường chắn (chẳng hạn tường chắn bảo vệ mái dốc) là áp lực chủ động, có ngược lại là áp lực bị động (Hình 1.
Tại một điểm nào đó trong đất, ứng suất ngang (h) của đất tính theo hệ số ứng suất ngang K và ứng suất theo thẳng đứng (h) như sau: h = K v (1.2) Giả sử có tường cứng có chiều sâu là H, nếu tường chuyển động về phía bên phải một đại lượng thì ứng suất theo phương ngang phần phía bên trái tường (vùng chủ động) có hướng về phía tường và phía bên phải tường (vùng bị động) ứng suất có hướng về bên trái. Tỷ số /H phải đạt khoảng 0,001 để gây nên ứng suất chủ động và khoảng 0.01 để gây nên ứng suất bị động 8 Hình 1.3: Vùng ứng suất chủ động và ứng suất bị động Hình 1. Biểu đồ hệ số ứng suất ngang chủ động, bị động và đất tĩnh Ở trường hợp tường không chuyển động (trạng thái áp lực đất tĩnh), hệ số ứng số ngang là Ko, và khi tường chuyển động như mô tả ở trên thì hệ số ứng suất ngang chủ động là Ka và bị động là Kp: Kp>Ko>Ka (Hình 1. Theo lý thuyết của Rankine (1857) giá trị áp lực đất chủ động và bị động đối với đất dính xác định như sau.
Ứng suất ngang chủ động (hữu hiệu 'a hoặc toàn phần a): - Cường độ áp lực đất chủ động theo thông số chống cắt hữu hiệu: 9 ' ' a' = ztg 2 45 − − 2c 'tg 45 − (1.3) 2 2 - Theo thông số chống cắt tổng cộng: (1.4) Ứng suất ngang bị động (hữu hiệu 'p hoặc toàn phần p): ' ' - Theo thông số cắt hữu hiệu: p = ztg 45 + + 2c ' tg 45 + ' 2 (1.5) 2 2 2 - Theo thông số cắt tổng cộng: p = ztg 45 + + 2ctg 45 + (1.5: Vùng giới hạn nứt nẻ trong đất Do áp lực bị động có hướng từ phía mái dốc vào trong nên không thể tạo nên nứt tách giãn (khe nứt do đất khô co ngót không thuộc loại khe nứt tách giãn theo cơ chế đang trình bày này). Áp lực đất chủ động hướng về phía mái dốc theo công thức (1.3) tỷ lệ tuyến tính với độ sâu, và có giá trị âm ở tại mặt đất (Z=0) nên sẽ tồn tại một đới so ứng suất ngang âm lớn hơn 0. Chiều sâu Z0 nơi ứng suất ngang bằng 0, hình thành vùng giới hạn nứt nẻ (hình 1.5), Z0 xác định như sau 10 2c ' - Theo ứng suất cắt hữu hiệu: Z 0 = (1.7) tg (45 o − ' / 2) 2c - Theo ứng suất cắt tổng cộng: Z 0 = (1.8) tg(45 o − ' / 2) Xem xét khối trượt minh họa trên hình 1.7 (có khe nứt tách giãn) hệ số ổn định mái dốc khi không có khe nứt tách giãn và có khe nứt tách giãn tương ứng theo công thức như sau: cR 2 - Không có khe nứt tách giãn: Fs = (1.9) Wd cR 2 c - Có khe nứt tách giãn khô: Fs = (1.10) Wd cR 2 c Z2 - Có khe nứt tách giãn chứa nước: Fs = ; Pw = w 0 (1.11) Wd + Pw y 2d Hình 1.6: Phân tích ổn định mái dốc khi không xét vết nứt kéo 11 Hình 1.7: Phân tích mái dốc khi có nứt kéo 1. Độ bền đất đá giảm (C,) Khi đất có độ ẩm tăng lên (chẳng hạn do mưa ngấm) ngoài việc làm tăng khối lượng của đất còn làm giảm lực kháng cắt và góc ma sát trong.
Thí dụ về giảm lực kháng cắt và góc ma sát trong của đất do tăng độ ẩm có thể được minh họa theo Robert L. Schuster và Raymond J. Krizek (1978) trên hình 1.14 cho thấy rằng sự biến đổi đột ngột của các thông số kháng cắt xảy ra khi đất chuyển từ trạng thái cứng sang dẻo [9]. Mức độ suy giảm lực dính và góc ma sát trong của đất do tăng độ ẩm [9] (Robert L.
Schuster và Raymond J. Krizek, 1981) Theo Terzaghi et al.