Chương 1: Tổng quan nghiên cứu: Đây là chương đầu tiên của bài nghiên cứu nhằm chỉ ra tính cấp thiết của đề tài, tổng quan về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài. 9 Chương 2: Một số vấn đề lý luận logistics ngược trong chuỗi cung ứng Đây là chương tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích và phát triển hệ thống lý luận về logistics ngược trong chuỗi cung ứng, gồm: các khái niệm, vị trí và vai trò của logistics ngược trong chuỗi cung ứng. Các mô hình logistics ngược và nội dung các bước trong quy trình logistics ngược. Cuối cùng là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến logistics ngược trong chuỗi cung ứng: yếu tố vi mô và vĩ mô.
Chương 3: Thực trạng các dòng logistics ngược trong thị trường thương mại điện tử C2C trên địa bàn Hà Nội Dựa vào các cơ sở dữ liệu thu được, chương 3 tập trung phân tích thực trạng logistics ngược trong thị trường thương mại điện tử C2C ( đánh giá thực trạng, thành công, hạn chế và nguyên nhân ). Chương 4: Một số giải pháp cho các dòng Logistics ngược trong thị trường thương mại điện tử C2C trên địa bàn Hà Nội Nêu ra xu hướng phát triển logistics ngược trong thị trường thương mại điện tử C2C; trên cơ sở đó đề ra giải pháp cho các dòng logistics ngược trong thị trường thương mại điện tử C2C; Cuối cùng là đưa ra một số kiến nghị. 10 CHƯƠNG II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LOGISTICS NGƯỢC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 2. Một số khái niệm và các vấn đề liên quan 2.
Khái niệm về logistics và logistics ngược 2. Khái niệm về logistics Thuật ngữ “logistics” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ “logistikos”, phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Ban đầu, thuật ngữ này sử dụng trong lĩnh vực quân sự, gọi là “hậu cần”, nghĩa là cung cấp những thứ cần thiết từ hậu phương ra tiền tuyến. Napoleon đã từng định nghĩa: Logistics là hoạt động để duy trì lực lượng quân đội.
Trong khi theo từ điển Tiếng Anh Oxford thì logistics trước tiên là “Khoa học của sự di chuyển, cung ứng và duy trì các hoạt động quân đội ở các chiến trường”.Cho đến nay, khái niệm logistics đã mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, mau chóng phát triển và mang lại thành công cho nhiều công ty và tập đoàn đa quốc gia lớn trên thế giới. Theo tài liệu của Liên hợp quốc, logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng. Hội đồng quản lý logistics Hoa Kỳ (Council of Logistics Management Professionals) đã định nghĩa: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”. Theo Điều 233, Luật Thương mại 2005, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc. Theo Edward Frazelle (2001), có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành năm giai đoạn: logistics tại chỗ (workplace logistics), logistics cơ sở sản xuất (facility logistics), logistics công ty (corporate logistics), logistics chuỗi cung ứng (supply chain logistics) và logistics toàn cầu (global logistics). Trong đó, ở giai đoạn logistics chuỗi cung ứng được phát triển vào những năm 1980, logistics được nhìn nhận là dòng vận động của nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty trong một chuỗi thống nhất. Đó là một mạng lưới các cơ sở hạ tầng, các phương tiện cùng với hệ thống thông tin được kết nối với nhau giữa các nhà cung ứng của một công ty và các khách hàng của công ty đó.
Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản 11 trị dự trữ, vận chuyển và bảo quản hàng hóa,.) được liên kết với nhau để thực hiện các mục tiêu trong chuỗi cung ứng. Theo quan điểm này, logistics được hiểu là “Quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Về bản chất, logistics là dịch vụ khách hàng nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng thông qua việc cung cấp hàng hóa đúng thời điểm và và địa điểm. Khái niệm và các dòng vật chất trong logistics ngược Hoạt động logistics gắn liền với sự vận động của các dòng cung ứng vật chất luôn theo hưởng từ phía sản xuất tới tiêu dùng, còn gọi là dòng logistics xuôi.
Quản trị logistics trong chuỗi cung ứng nhằm đảm bảo cho quá trình vận động này liên tục và hiệu quả. Tuy nhiên, ở nhiều khâu của quá trình logistics xuôi có thể xuất hiện những sản phẩm không đạt yêu cầu cần phải hoàn trả lại; Những sản phẩm hư hỏng, khiếm khuyết, đòi hỏi phải tái chế, đóng gói, dán nhãn lại; Sản phẩm lỗi mốt, lỗi thời không tiêu thụ được, hoặc dòng khứ hồi của một số loại bao bì hàng hóa. Trong đó, bao bì hàng hóa là đối tượng ngày càng được quan tâm trước yêu cầu tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo và bảo vệ môi trường ngày càng cao. Đòi hỏi phải tổ chức các hoạt động đưa những đối tượng này về các điểm thu hồi để sửa chữa, tái chế, tái sử dụng.
hình thành nên hoạt động logistics theo chiều ngược lại với dòng xuôi. Logistics ngược (Reverse logistics) là quá trình tổ chức, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả dòng chảy của nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và bao bì từ các điểm tiêu dùng đến các điểm thu hồi với mục đích tận dụng các giá trị còn lại hoặc thải hồi một cách hợp lý. An Thị Thanh Nhàn và TS. Nguyễn Thông Thái (2021), Giáo trình Quản trị logistics kinh doanh, Nhà xuất bản Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Thương mại) Dòng vật chất trong logistics ngược phát sinh từ nhiều nguyên nhân dưới đây: Dòng thu hồi các sản phẩm không bản được hoặc sản phẩm bị khuyết tật: Các sản phẩm được đưa vào thị trường bị ứ đọng, không bán được do thiếu nhu cầu hoặc nhu cầu đã bão hòa cần được thu hồi để chuyển bán ở thị trường khác đang có nhu cầu.
Các sản phẩm đã đưa vào thị trường nhưng có những khuyết tật về công dụng, màu sắc, kiểu dáng, tính năng không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng nên không tiêu thụ được cần phải thu hồi để nâng cấp, sửa chữa để tiếp tục chuyển bán. Khi thu hồi các sản phẩm không bản được, hoặc các sản phẩm bị khuyết tật nhà sản xuất phải gánh chịu thêm chi phí. Vì vậy cần phải tổ chức và kiểm soát tốt các hoạt động có liên quan đến dòng thu hồi này. Dòng thu hồi bao bì do tháo dỡ các sản phẩm đã qua sử dụng: Nhiều sản phẩm đã hết thời hạn sử dụng, khách hàng thải hồi chúng.
Tuy nhiên các sản phẩm có thể tận dụng lại nhiều chi tiết, bộ phận hoặc nguyên liệu như các linh kiện điện tử điện máy. Hãng xe BMW hiện nay có một dây chuyển tháo dỡ các xe BMW cũ và lựa chọn những 12 bộ phận nào của xe có thể sử dụng lại. Bên cạnh đó việc thải hồi không đúng cách của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến môi trường. Doanh nghiệp nên tổ chức thu hồi đề xử lý, tận dụng hoặc tiêu hủy chúng một cách an toàn.
Thu hồi và tái sử dụng các bao bì sản phẩm: sau khi khách hàng sử dụng sản phẩm, có một số lượng lớn bao bì đã qua sử dụng phải thu gom lại để tái sử dụng hoặc tái chế nhằm tiết giảm chi phí nguyên liệu. Các dạng chai, lọ thủy tinh, nhựa, vỏ lon phải thu hồi để tái chu kỳ như các loại bao bì của Coca-cola, Saigon Beer, Habeco, Tribeco. thường xuyên được thu hồi để tái sử dụng. Dòng thu hồi và tái sử dụng pallet, container: các công cụ mang hàng như pallet, container.
cũng được coi là loại bao bì chuyển tải có vai trò rất to lớn trong các dòng thương mại hàng hóa quốc tế. Trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng logistics ngược của các container rỗng và pallet ngày càng phức tạp hơn. Các hãng tàu container thường tự tổ chức một hệ thống logistics riêng để thực hiện công việc quản lý, điều phối, sử dụng container. Vị trí & vai trò logistics ngược trong chuỗi cung ứng Trong những năm gần đây, dưới áp lực tiết kiệm các nguồn nguyên liệu cho sản xuất và vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, logistics ngược được xem là một trong những giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp tận dụng nguyên liệu tái chế, giảm chi phí, tăng doanh thu, nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng, giảm tác hại của sản xuất kinh doanh lên môi trường.
Những vai trò cơ bản của logistics ngược bao gồm: Logistics ngược tạo sự thông suốt cho quá trình logistics xuôi: Ở nhiều khâu của cung ứng sản phẩm, xuất hiện những sản phẩm lỗi cần sửa chữa, đóng gói hoặc dán nhãn mác lại. Logistics ngược giúp thực hiện nhanh chóng các thao tác này để đưa các sản phẩm này trở lại kênh phân phối kịp thời. Dòng logistics ngược được tổ chức tốt sẽ đảm bảo sự thông suốt cho quá trình logistics xuôi. Do đó, để đạt hiệu quả cao trong quản trị dòng logistics xuôi, cần kết hợp thực hiện với các hoạt động logistics ngược.
Logistics ngược góp phần nâng cao trình độ dịch vụ khách hàng: việc thu hồi các sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng để đổi hàng, sửa chữa, bảo hành, bảo dưỡng. sẽ góp phần thỏa mãn tốt hơn yêu cầu của khách hàng, nâng cao mức dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp. Chính sách thu hồi tốt sẽ góp phần mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.