CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Một số đặc điểm giải phẫu liên quan trong cấy ghép implant nha khoa ở hàm trên. Xương hàm trên Xương hàm trên gồm có các thành phần sau: 1. Thân xương hàm trên: Có 4 mặt * Mặt ổ mắt: Mặt ổ mắt nhẵn, hình tam giác, tạo thành phần lớn nền ổ mắt.
Phía sau có rãnh dưới ổ mắt, rãnh này liên tiếp với ống dưới ổ mắt, nơi có dây thần kinh dưới ổ mắt đi qua. * Mặt trước: Mặt trước ngăn cách với mặt ổ mắt bởi bờ dưới ổ mắt. Ở dưới bờ này có lỗ dưới ổ mắt, là nơi dây thần kinh dưới ổ mắt thoát ra. Ngang mức răng nanh ở phía trên chân răng có hố nanh.
Đây là điểm giải phẫu cần lưu ý khi cấy implant ở vùng này. Phía trong của mặt trước có khuyết mũi, dưới khuyết mũi có gai mũi trước. * Mặt thái dương: Phía sau lồi lên là lồi củ hàm trên. Trên lồi củ có 4 - 5 lỗ để dây thần kinh huyệt răng sau đi qua.
* Mặt mũi: Ở mặt này có rãnh lệ đi từ ổ mắt xuống. Phía trước rãnh lệ có mào xoăn, phía sau có lỗ xoang hàm trên. Mỏm trán: Chạy lên trên để khớp với xương trán. Mỏm gò má: Tương ứng với đỉnh của thân xương, hình tháp, phía trên có một diện gồ ghề để khớp với xương gò má.
Mỏm khẩu cái: Là một mỏm nằm ngang, tách ra từ phần dưới mặt mũi của thân xương hàm trên và cùng với mỏm khẩu cái của xương bên đối diện tạo thành vòm miệng. Ở đường giữa phía trước vòm miệng có lỗ răng cửa và ống răng cửa, nơi động mạch khẩu cái trước và thần kinh bướm khẩu cái đi qua. Chiều dài của ống răng cửa dao động từ 8 - 26 mm, trục của nó nghiêng từ 57 - 89,5o so với mặt phẳng Franfort. 4 Mỏm trán Lỗ răng cửa Lỗ dưới ổ mắt Huyệt ổ răng Mỏm gò má Gai mũi trước Lỗ khẩu cái Khớp khẩu cái giữa Mỏm huyệt ổ răng Hình 1.
Xương hàm trên[4] 1. Mỏm huyệt răng Mỏm huyệt răng quay xuống dưới, trên mỏm có những lỗ huyệt ổ răng. Sau khi nhổ răng một thời gian thì các lỗ huyệt ổ răng được lấp đầy, mỏm huyệt răng khi đó được gọi là mào sống hàm. Mào sống hàm ở vùng răng số 5 và 6 rất gần với sàn xoang hàm trên, phải đặc biệt lưu ý khi cấy implant ở vùng này.
Xoang hàm trên là một khoang chứa khí nằm trong thân xương hàm trên. Trên người trưởng thành, đây là một đôi xoang lớn nhất nằm hai bên mũi có dung tích khoảng 12 đến 15ml. Kích thước trung bình chiều rộng là 23mm, chiều trước sau là 34mm và chiều cao là 33mm. Xoang hàm trên được phủ bởi lớp niêm mạc dày khoảng 0,3 - 0,8 mm.
Sự mở rộng xoang vào xương ổ răng là yếu tố ảnh hưởng chính đến số lượng các bè xương dọc và chiều cao xương còn lại để cấy ghép nha khoa cho vùng răng sau hàm trên. Bờ trước xoang ở người trưởng thành còn đầy đủ răng ở vào khoảng răng hàm nhỏ thứ hai hoặc răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên. Khi mất răng, xoang hàm có thể xâm lấn vào vùng xương ổ răng trống. Sự xâm lấn của xoang vào xương ổ răng không thể tiên đoán được và cần phải xem xét cẩn thận trên X-quang để tránh làm tổn thương niêm mạc xoang trong quá trình cấy ghép nha khoa.
Niêm mạc lót trong xoang rất mỏng và bám chặt vào 5 màng xương. Một điều may mắn là màng xương lại bám rất lỏng lẻo vào xương ngoại trừ phần bám ở vách ngăn xoang, do vậy, màng xương rất dễ nâng lên trong quá trình ghép xương nâng đáy xoang [4]. Sàn xoang hàm nằm thấp hơn sàn hốc mũi từ 1-1,5mm [5]. Cấu trúc xoang hàm có bốn mặt và một đáy: Hình 1.2 Thiết đồ cắt đứng dọc qua xoang hàm [5] - Bốn mặt (thành) của xoang tương đối mỏng và tương ứng với mặt ổ mắt (thành trên), mặt trước (thành trước), mặt gò má (thành sau), mặt vách mũi xoang(thành trong).
- Đáy xoang hàm: Liên quan kế cận với các chân răng hàm. Đôi khi xuất hiện vách ngăn xoang là nơi niêm mạc xoang dễ bị rách trong quá trình nâng màng xoang.3 : Vách ngăn và mạch máu trong xoang [5] - Niêm mạc của xoang hàm gồm các loại tế bào trụ có lông chuyển, các tế bào chế nhầy, các tế bào trung gian [6][7]. Mạch máu và thần kinh [8] Các nhánh của thần kinh mặt (vận động) và dây sinh ba (cảm giác) được định vị sâu trong mô và ít có nguy cơ bị tổn thương khi bóc tách vạt. Ở phía trong của hàm trên: Khi phẫu thuật cần thận trọng vì có sự hiện diện của lỗ khẩu cái lớn và động mạch khẩu cái lớn.
Động mạch khẩu cái lớn [8] 1. Niêm mạc Niêm mạc miệng bám vào xương ổ răng hàm trên, vòm miệng bao gồm cả niêm mạc chịu lực nhai (niêm mạc lợi dính) và niêm mạc lót (niêm mạc di động. Khi sống hàm bị tiêu xương, đường nối niêm mạc lợi dịch chuyển dần về phía mào sống hàm, khi đó sống hàm được phủ bằng niêm mạc sừng hoá không di động. Vòm miệng cứng được phủ bằng niêm mạc sừng hoá và thường là chỗ lấy niêm mạc để đem đi ghép.
Vùng hai bên vòm miệng cứng có lớp dưới niêm mạc. Lớp dưới niêm mạc lỏng lẻo này làm cho niêm mạc dễ bóc tách và thích hợp với việc cho mảnh ghép [4]. Lợi dính là phần lợi nằm giữa lợi tự do và niêm mạc miệng. Với cấu trúc bề mặt là biểu mô sừng hóa, bám vào xương răng và xương ổ răng do đó lợi dính có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ tổ chức quanh răng, duy trì độ bền vững của implant [9].
Độ rộng, chiều cao, chiều dày của lợi dính cùng với chiều cao, chiều dày và chất lượng xương là những yếu tố cần thiết để phẫu thuật viên lựa chọn cách thức phẫu thuật phù hợp. Theo Trịnh Đình Hải ở người Việt Nam, chiều rộng lợi sừng hóa có thể sắp xếp từ cao đến thấp theo 7 trình tự tương ứng với các răng như sau: Răng số 7 hàm trên, răng số 1 hàm dưới, răng số 1 hàm trên, răng số 3 hàm trên, răng số 5 hàm trên, răng số 3 hàm dưới, răng số 5 hàm dưới và răng số 7 hàm dưới [10]. Nghiên cứu của Nguyễn Mẹo và Hoàng Tử Hùng cho thấy chiều rộng của lợi sừng hóa ở vị trí răng cửa giữa hàm trên là 4,80 ± 1,05 mm[11]. Trong một nghiên cứu khác Hà Thị Bảo Đan và cs cho kết quả chiều rộng trung bình của lợi sừng hóa cao nhất ở vùng răng cửa giữa và răng cửa bên hàm trên là 5,21 mm [12].
Sự thay đổi của sống hàm sau khi mất răng [13] 1. Quá trình liền thương trong xương ổ răng.5: Quá trình hình thành xương sau nhổ răng [13] Thành lập cục máu đông: Ngay lập tức sau nhổ răng máu sẽ lấp đầy ổ răng. Protein từ mạch máu và các tế bào hư hại bắt đầu một loạt quá trình để hình thành mạng lưới các sợi tơ huyết. Các tiểu cầu tập hợp lại và tác động qua lại với lưới tơ huyết để hình thành cục máu đông.
Làm sạch vết thương: Bạch cầu đa nhân trung tính và đại thực bào di chuyển vào vết thương, ăn hết vi khuẩn và mô hư hại và làm sạch ổ răng. Sự hình thành mô xương: Những mạch máu mới, tế bào trung mô , nguyên 8 bào sợi xuất phát từ dây chằng nha chu và tủy xương vùng xung quanh đi vào ổ răng. Tế bào trung mô bắt đầu tăng sinh và lắng đọng thành khuôn ở vùng ngoài tế bào. Mô hạt sẽ dần dần thay thế cục máu đông.
Mô xương được cấu trúc và tái cấu trúc: Xương non cung cấp một giàn đỡ vững chắc với bề mặt rắn chắc, những đơn vị xương sơ cấp dần dần được thay thế bằng những xương phiến và tuỷ xương. Quá trình liền thương ngoài xương ổ răng. Trong khi mào xương mặt trong không thay đổi thì mào xương mặt ngoài di chuyển vài mm về phía chóp.6: Trong khi vách xương mặt trong duy trì trong suốt quá trình lành thương (đường ngang), mào vách xương ngoài thấp hơn 2mm về phía chóp (đường chấm chấm).[13] Có 2 lí do làm cho xương mất phía ngoài nhiều hơn phía trong. Thứ nhất, trước khi nhổ răng, 1-2mm mép mào xương phía ngoài có xương bó.
Chỉ một phần nhỏ mào xương phía trong có xương bó. Xương bó là mô phụ thuộc vào răng, sẽ mất đi khi nhổ răng. Như vậy, mào xương mặt ngoài liên hệ nhiều với xương bó hơn mặt trong nên mô cứng mất nhiều hơn. Thứ hai, vách ổ răng mặt trong dày hơn mặt ngoài.
Chúng ta biết rằng lật vạt toàn phần và bóc tách mô nha chu từ mô xương sẽ gây ra tiêu xương bề mặt. Điều này làm giảm chiều cao của xương mặt ngoài nhiều hơn vì xương mặt ngoài mỏng hơn là xương mặt trong. Những thay đổi hình thể sống hàm sau mất răng. Hình thái học đặc trưng của xương ổ răng có quan hệ với hình dạng và kích thước của răng.
Những người có răng dài và nhỏ, so sánh với người răng ngắn và rộng, thì thấy xương ổ răng mỏng manh hơn và đặc biệt chỗ xương mỏng đôi khi bị cửa sổ xương.7: Mặt ngoài hàm trên của người có mô nha chu dày (a) và mỏng (b) [13] Răng và mô bám dính xung quanh- xêmăng chân răng, dây chằng nha chu và xương bó (bundle bone)- lập thành 1 đơn vị chức năng. Do đó, lực sinh ra như lực nhai, được truyền từ thân răng qua chân răng và mô bám dính tới cấu trúc mô cứng nâng đỡ trong xương ổ răng, nơi lực bị phân tán. Sự mất răng và mất chức năng sẽ dẫn tới một loạt sự thay đổi thích nghi của phần sống hàm mất răng. Điều này được chứng minh bằng cách theo dõi việc nhổ răng hàng loạt và theo sau đó là phục hình tháo lắp thì kích thước của sống hàm sẽ giảm đi rõ rệt, không chỉ chiều ngang mà cả chiều dọc.
Hơn nữa, cung hàm cũng sẽ ngắn lại.Theo dõi phục hình tháo lắp một răng thì thấy sống hàm cũng bị thu nhỏ rõ rệt (Hình 1.8 : (a)Hình ảnh mặt ngoài sống hàm bị lõm. Một số phân loại thể tích và chất lượng xương sau khi mất răng 1. Phân loại của Wang và Shammari (2002) [14] H: thiếu hổng xương theo chiều ngang. V: thiếu hồng xương theo chiều đứng.
C: phối hợp thiếu hổng cả chiều ngang và chiều đứng. Phân loại của Tinti và Parma- Benfenati (2003) [15] A. Thiếu hổng sống hàm theo chiều ngang được chia thành 2 loại.