phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm các hệ thống sử dụng đất đai khu vực hữu ngạn sông Đáy huyện Kim Bảng Chƣơng 3: Đánh giá các hệ thống sử dụng đất cho phát triển nông – lâm nghiệp khu vực hữu ngạn sông Đáy huyện Kim Bảng 4 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý theo tiếp cận tổng hợp và hệ thống đƣợc thể hiện rõ trong nghiên cứu, đánh giá cảnh quan, đánh giá đơn vị đất đai và đánh giá các đơn vị sinh thái cảnh. Các công trình theo hƣớng nghiên cứu, đánh giá cảnh quan Nghiên cứu, đánh giá cảnh quan là sự biểu hiện của các nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý trong nghiên cứu ứng dụng. a) Trên thế giới Khoa học về cảnh quan ngày càng phát triển và đƣợc ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trƣờng của nhiều nƣớc trên thế giới.
- Ở Liên Xô cũ, có nhiều công trình ứng dụng cho viêc đánh giá tổng hợp cho các mục đích thực tiễn. Mukhina (1973) là ngƣời đã đƣa ra phƣơng pháp, nguyên tắc ứng dụng để tiến hành quy trình đánh giá tổng thể tự nhiên cũng nhƣ các thành phần của chúng. Bên cạnh đó là một số mô hình đánh giá kinh tế - xã hội của Kunhixki (1973), mô hình đánh giá thiết kế lãnh thổ của Cộng hòa Ucraina của Sisenco P.G (1983) và nhiều công trình khác,…[1] - Ở Anh, đánh giá cảnh quan đƣợc nhấn mạnh nhằm tạo ra các phƣơng pháp “khách quan” trong nghiên cứu khu vực. Nổi bật là các nghiên cứu của Appleton, Robinson (1976),.
Bên cạnh hƣớng đánh giá thích nghi sinh thái của L. Mukhina, hƣớng kinh tế sinh thái còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhƣ đánh giá hiệu quả kinh tế bằng phƣơng pháp sử dụng chi phí – lợi ích (Jules Dupuit, 1848; Alfed Mashall và Zvoruvkin K.B, 1968), ảnh hƣởng môi trƣờng (Leopold, 1972; Hudson, 1984, Petermann T, 1996,.) [1] b) Ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu cảnh quan ở Việt Nam chủ yế dựa trên nền tảng lý luận khoa học của các nhà địa lý Nga và các nƣớc cộng hòa trong Liên Xô cũ. 5 z Các nghiên cứu mang tính lý luận và ứng dụng phục vụ các mục đích thực tiễn đƣợc đề cập nhiều, đặc biệt là ở các trƣờng đại học và học viện lớn nhƣ: Trƣờng Đại học Tổng hợp trƣớc đây, nay là trƣờng Đại học Khoa học Tự Nhiên – ĐHQGHN, Viện Địa lý, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,. Trong đó, công trình rất đáng chú ý về mặt lý luận: “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, 1976”, và nhiều công trình khác có ý nghĩa thực tiễn: Công trình phân vùng địa lý tự nhiên Tây Nguyên của tập thể tác giả do Trần Quang Ngãi, Hoàng Đức Triêm làm chủ biên tiến hành trong giai đoạn 1976 – 1980 và một lọat các công trình ra đời sau năm 1980: Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng lãnh thổ (Phạm Hoàng Hải (1997) ); Ứng dụng cảnh quan trong nghiên cứu lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch bảo vệ môi trƣờng (Nguyễn Cao Huần và nnk, 2003, 2004, 2005; Phạm Quang Anh, 1996; Nguyễn Văn Vinh, 1996; Phạm Quang Tuấn, 2004),.
Và cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại và sự phát triển của các ngành khoa học khác thì cảnh quan học đang khẳng định vị trí và vai trò quan trọng của mình. Như vậy, thông qua các công trình về nghiên cứu, đánh giá cảnh quan trong và ngoài nƣớc đã giúp tác giả hình thành các quan điểm nghiên cứu, xác định cách tiếp cận của luận văn trên nguyên tắc quan điểm địa lý ứng dụng trong đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý. Các công trình nghiên cứu về đánh giá đất đai a) Các nghiên cứu đánh giá đất đai trên thế giới Xuất phát từ nghiên cứu riêng lẻ của từng quốc gia, công tác đánh giá đất đai trên thế giới hiện nay phổ biến với các hệ thống đánh giá đất đai sau: - Phương pháp đánh giá phân hạng đất ở Liên Xô cũ: Đánh giá đất đai theo Liên Xô gồm 3 bƣớc: Đánh giá lớp phủ thổ nhƣỡng (so sánh các loại thổ nhƣỡng theo tính chất tự nhiên); Đánh giá khả năng sản xuất của 6 z đất đai (yếu tố đƣợc xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình), Đánh giá đất đai dựa vào kinh tế (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai) [25]. - Phương pháp đánh giá phân hạng đất ở Mỹ: nổi bật với 2 hệ thống phân hạng sau: + Phân loại khả năng đất có tƣới (Irrigation land suitability classification) của Cục cải tạo đất đai – Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) xây dựng năm 1951.
Phân loại gồm 6 lớp, từ lớp có thể trồng trọt đƣợc đến lớp có thể trồng trọt đƣợc một cách có giới hạn đến lớp không thể trồng trọt đƣợc [25]. + Phân hạng khả năng đất đai (The Land capability classification) của Cơ quan bảo vệ đất – Bộ Nông nghiệp Mỹ soạn thảo (USDA) xây dựng năm 1961. Hệ thống đánh giá đất, phân hạng đất với mức hạn chế đƣợc chia thành 2 mức: hạn chế tức thời, hạn chế lâu dài và hệ thống đánh giá đƣợc chia làm 3 cấp: lớp (class), lớp phụ (sub - class) và đơn vị (unit) [25]. Ngoài ra, ở các nước khác như Anh, Canada, Ấn Độ,… hệ thống đánh giá đất đai chủ yếu dựa trên yếu tố thổ nhƣỡng để phân cấp đất đai cho các mục tiêu sử dụng đất [25].
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO: Năm 1976, phƣơng pháp đánh đất của FAO (A framework for land evaluation, FAO) ra đời, bên cạnh việc đánh giá tiềm năng đất còn đề cập đến vấn đề kinh tế, xã hội và kỹ thuật canh tác của từng loại sử dụng đất để lựa chọn phƣơng án thích hợp nhất. Tài liệu này đƣợc cả thế giới quan tâm thử nghiệm vận dụng và chấp nhận phƣơng tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai [8]. Bên cạnh đề cƣơng tổng quát 1976 [27]. là hàng loạt tài liệu hƣớng dẫn cụ thể khác về đánh giá khả năng thích hợp đất đai cho từng đối tƣợng: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ nƣớc mƣa (Land evaluation for rained agriculture, 1983), đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp đƣợc tƣới (Land evaluation for irrigated agriculture, 1985), đánh giá đất đai cho đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive gazing, 1989), đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land evaluation for development, 1990), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống 7 z canh tác cho việc sử dụng đất (Land evaluation and farming system analysis for land use planning, Framework for land evaluating sustainable management, 1993) [25].
b) Đánh giá đất đai ở Việt Nam Công tác đánh giá, phân hạng đất đã đƣợc nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện nhƣ: Tổng cục quản lý ruộng đất, các trƣờng Đại học Nông Nghiệp, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp,… với các nghiên cứu nhƣ: Đánh giá phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh (Bùi Quang Toản, Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đình Văn Tỉnh, 1970); dự thảo phƣơng pháp phân hạng đất của (Tổng cục quản lý Ruộng đất, 1981); Đánh giá và quy hoạch sử dụng đất hoang Việt Nam (Bùi Quang Toản và nkk. 1986); Đánh giá phân hạng đất khái quát toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và nkk, 1986),…[25]. Bên cạnh đó, từ năm 1992 phƣơng pháp đánh giá đất đai của FAO và các hƣớng dẫn tiếp theo (1983, 1985, 1992) đƣợc Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp áp dụng rộng rãi trong các dự án quy hoạch phát triển ở các huyện và tỉnh đồng bằng khắp cả nƣớc. Từ đây, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã biên soạn cuốn: Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp – 10TCN, 1998 và cuốn: Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp, Tập 2: Phân hạng đánh giá đất (2009).
Đây là những tài liệu cung cấp phƣơng pháp phân hạng đánh giá tài nguyên đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất bền vững trên phạm vi cả nƣớc. Như vậy, hầu hết các nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới và Việt Nam sử dụng phƣơng pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, sau đó đánh giá từng đơn vị đất đai với yêu cầu của từng loại hình sử dụng đất để phân hạng thích nghi mà chƣa xem xét mối quan hệ tƣơng tác giữa đất đai với loại hình sử dụng đất trong hệ thống sử dụng đất đai [16]. Đã có một số công trình đề cập đến hệ thống sử dụng đất đai nhƣ một số công trình theo các nguồn [2], [15], [16]. Bên cạnh đó, qua các công trình nghiên cả ở trong và ngoài nƣớc, tác giả đã tham khảo đƣợc những khái niệm, nguyên tắc lựa chọn và phân cấp chỉ tiêu, xây dựng đơn vị lãnh thổ đánh giá 8 z và các vấn đề khác liên quan đến sử dụng đất đai, đánh giá đất đai để vận dụng có chọn lọc trong quá trình nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu liên quan ở tỉnh Hà Nam và huyện Kim Bảng Năm 1960, Vụ Quản lý ruộng đất đã điều tra khảo sát đất đai lập bản đồ đất huyện Kim Bảng tỷ lệ 1/25.000 và tổng hợp lên bản đồ đất tỉnh Hà Nam tỷ lệ 1/50. Năm 2001, trong khuôn khổ của đề tài :“Điều tra, đánh giá quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2010” ngoài xây dựng bản đồ đất cho các huyện, Viện Thổ nhƣỡng Nông hóa cũng đã tiến hành đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2010. Năm 2003 – 2003, chƣơng trình “Điều tra đánh giá thích nghi đất lúa phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng” đã chọn Hà Nam là một trong 3 tỉnh điểm để nghiên cứu. Kết quả đánh giá thích nghi đất lúa ở Hà Nam trong năm 2003 cũng đã đề xuất đƣợc diện tích đất lúa ổn định và diện tích đất lúa cần nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng đến cấp huyện.
Năm 2005, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã tiến hành “Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 huyện Kim Bảng” [10].