Luận án tiến sĩ về điều khiển tối ưu dao động và ứng dụng bộ giảm chấn động lực

Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều khiển tối ưu dao động bằng kết hợp nhiều bộ giảm chấn động lực, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho

Chuyên ngành

Cơ Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

159
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

1.2. Đối tượng nghiên cứu

1.3. Các phương pháp nghiên cứu

1.4. Nội dung của luận án

1.5. Bố cục của luận án

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN DAO ĐỘNG BẰNG BỘ GIẢM CHẤN ĐỘNG LỰC

2.1. Bài toán điều khiển dao động bằng bộ giảm chấn động lực. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.3. Xác định vấn đề nghiên cứu

3. ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU DAO ĐỘNG CỦA HỆ CHÍNH CÓ CẢN BẰNG NHIỀU BỘ GIẢM CHẤN ĐỘNG LỰC ĐƠN TẦN SỐ DỰA TRÊN PHƯƠNG PHÁP CỦA DEN-HARTOG

3.1. Mô hình cơ học hệ chính có cản lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

3.2. Thiết lập phương trình vi phân dao động của hệ chính có cản lắp nhiều bộ giảm chấn động lực. Nghiệm cưỡng bức bình ổn cho hệ phương trình vi phân dao động của hệ chính có cản lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

3.3. Hàm đáp ứng tần số của hệ lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

3.4. Mở rộng công thức của Den – Hartog xác định các tham số tối ưu của hệ nhiều bộ giảm chấn động lực đơn tần số cho hệ chính không cản

3.5. Thiết kế tối ưu các tham số của hệ nhiều bộ giảm chấn động lực đơn tần số lắp trên hệ chính có cản bằng phương pháp tuyến tính hóa tương đương

3.6. Tiêu chuẩn bình phương tối thiểu. Tiêu chuẩn đối ngẫu

3.7. Kết luận chương 2

4. ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU DAO ĐỘNG CỦA HỆ CHÍNH CÓ CẢN BẰNG NHIỀU BỘ GIẢM CHẤN ĐỘNG LỰC ĐA TẦN SỐ DỰA TRÊN PHƯƠNG PHÁP TAGUCHI

4.1. Mô hình dao động tương đương của hệ nhiều bộ giảm chấn chất lỏng và nhiều bộ giảm chấn khối lượng- cản nhớt

4.2. Thiết kế các tham số tối ưu của các bộ giảm chấn động lực đa tần số bằng phương pháp thực nghiệm của Fujino và đồng nghiệp. Phương pháp phân tích

4.3. Khảo sát hiệu quả điều khiển dao động khi sử dụng hệ nhiều bộ giảm chấn chất lỏng đa tần số

4.4. Thiết kế tối ưu các tham số của hệ nhiều bộ giảm chấn động lực lắp trên hệ chính có cản dựa trên phương pháp Taguchi

4.5. Ý tưởng của phương pháp Taguchi

4.6. Một thuật toán mới thiết kế tối ưu các tham số của hệ nhiều bộ giảm chấn động lực đa tần số dựa trên phương pháp Taguchi

4.7. So sánh hiệu quả điều khiển dao động của hệ lắp 5 bộ giảm chấn động lực đơn tần số và đa tần số

4.8. So sánh hiệu quả điều khiển dao động của hệ lắp 5 bộ giảm chấn động lực đơn tần số giữa hai phương pháp

4.9. Kết luận chương 3

5. ĐIỀU KHIỂN TỐI ƯU DAO ĐỘNG UỐN CƯỠNG BỨC CỦA DẦM EULER - BERNOULLI CÓ CẢN BẰNG NHIỀU BỘ GIẢM CHẤN ĐỘNG LỰC

5.1. Dao động uốn cưỡng bức của dầm Euler – Bernoulli có lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

5.2. Thiết lập hệ phương trình dao động uốn cưỡng bức của dầm gắn nhiều bộ giảm chấn động lực. Rời rạc hóa dầm liên tục bằng phương pháp Ritz-Galerkin

5.3. Dạng ma trận của phương trình vi phân chuyển động của dầm lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

5.4. Hàm đáp ứng tần số của dầm lắp nhiều bộ giảm chấn động lực

5.5. Điều khiển tối ưu dao động uốn cưỡng bức của dầm có cản bằng nhiều bộ giảm chấn động lực dựa trên phương pháp Taguchi

5.6. Điều khiển dao động uốn cưỡng bức của dầm hai đầu bản lề bằng các bộ giảm chấn động lực

5.7. Điều khiển dao động uốn cưỡng bức của dầm một đầu ngàm một đầu tự do bằng nhiều bộ giảm chấn động lực

5.8. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về điều khiển tối ưu dao động

Nghiên cứu về điều khiển tối ưu dao động là một lĩnh vực quan trọng trong cơ học ứng dụng. Dao động có thể gây ra những tác động tiêu cực đến hiệu suất và độ bền của các hệ thống cơ khí. Việc sử dụng bộ giảm chấn động lực (DVA) đã trở thành một giải pháp phổ biến để giảm thiểu các dao động không mong muốn. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng việc áp dụng nhiều bộ DVA có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng một bộ đơn lẻ. Điều này dẫn đến việc phát triển các phương pháp tối ưu hóa để thiết kế và lắp đặt các bộ giảm chấn này nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong việc kiểm soát dao động.

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng hệ nhiều bộ giảm chấn có thể cải thiện đáng kể khả năng kháng chấn của các công trình xây dựng và máy móc. Các phương pháp như kỹ thuật điều khiển tự độngmô hình hóa động lực học đã được áp dụng để tối ưu hóa hiệu suất của các bộ DVA. Nghiên cứu của Den-Hartog và Taguchi đã mở ra hướng đi mới trong việc thiết kế các bộ giảm chấn, cho phép tối ưu hóa các tham số để đạt được hiệu quả cao nhất trong việc giảm dao động.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về điều khiển dao động bằng bộ giảm chấn động lực cũng đang được quan tâm. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp tối ưu hóa như phương pháp Taguchi có thể giúp cải thiện hiệu quả của các bộ DVA trong các công trình xây dựng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc áp dụng các phương pháp này vào thực tế, đặc biệt là trong việc thiết kế và lắp đặt các bộ giảm chấn cho các hệ thống lớn.

II. Mô hình hóa và phân tích dao động

Mô hình hóa là bước quan trọng trong việc nghiên cứu dao động của các hệ thống cơ học. Việc thiết lập mô hình động lực học cho hệ thống có thể giúp xác định các tham số tối ưu cho các bộ giảm chấn. Các phương trình vi phân dao động được thiết lập dựa trên các nguyên lý cơ học cơ bản, cho phép phân tích và dự đoán hành vi của hệ thống dưới tác động của các lực bên ngoài. Việc sử dụng mô phỏng số cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác nhận các kết quả lý thuyết và tối ưu hóa thiết kế.

2.1. Thiết lập phương trình vi phân dao động

Phương trình vi phân dao động của hệ thống có thể được thiết lập dựa trên các nguyên lý cơ học như định luật Newton và nguyên lý Hamilton. Các tham số như độ cứng, hệ số cản, và khối lượng của các bộ giảm chấn cần được xác định chính xác để đảm bảo tính chính xác của mô hình. Việc thiết lập các phương trình này không chỉ giúp phân tích dao động mà còn là cơ sở để tối ưu hóa thiết kế các bộ giảm chấn.

2.2. Phân tích hiệu quả điều khiển dao động

Phân tích hiệu quả của các bộ giảm chấn trong việc điều khiển dao động là một phần quan trọng trong nghiên cứu. Các chỉ số như tần số cộng hưởng, biên độ dao động, và thời gian đáp ứng cần được đánh giá để xác định hiệu quả của hệ thống. Việc so sánh giữa các phương pháp điều khiển khác nhau cũng giúp xác định phương pháp tối ưu nhất cho từng loại hệ thống.

III. Ứng dụng thực tiễn và kết luận

Nghiên cứu về điều khiển tối ưu dao động với bộ giảm chấn động lực không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn rộng rãi. Các bộ giảm chấn này có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực như xây dựng, giao thông vận tải, và công nghiệp chế tạo. Việc tối ưu hóa thiết kế và lắp đặt các bộ giảm chấn sẽ góp phần nâng cao độ bền và hiệu suất của các công trình và thiết bị. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng nhiều bộ DVA có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng một bộ đơn lẻ, mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai.

3.1. Ứng dụng trong xây dựng

Trong lĩnh vực xây dựng, việc sử dụng bộ giảm chấn động lực giúp giảm thiểu các dao động do gió, động đất, và tải trọng tĩnh. Các công trình như cầu, tòa nhà cao tầng, và các kết cấu lớn khác đều có thể hưởng lợi từ việc áp dụng các bộ giảm chấn này. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa thiết kế các bộ DVA có thể giúp tăng cường độ ổn định và an toàn cho các công trình.

3.2. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng hệ nhiều bộ giảm chấn là một giải pháp hiệu quả trong việc điều khiển dao động. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc phát triển các phương pháp tối ưu hóa mới, cũng như ứng dụng các công nghệ hiện đại trong thiết kế và lắp đặt các bộ giảm chấn. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả điều khiển dao động mà còn mở rộng khả năng ứng dụng của các bộ giảm chấn trong thực tiễn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN DAO ĐỘNG BẰNG BỘ GIẢM CHẤN ĐỘNG LỰC Các thiết bị máy móc, các phương tiện giao thông vận tải, các công trình xây dựng có thể được mô hình là hệ một bậc tự do, nhiều bậc tự do hay hệ liên tục. Dưới kích động của tải trọng bên ngoài, các hệ này xuất hiện dao động. Đa số dao động là có hại như làm giảm độ chính xác, giảm hiệu quả làm việc, giảm tuổi thọ của máy hoặc kết cấu. Vì vậy, điều khiển giảm thiểu hoặc khử hẳn dao động không có lợi là một vấn đề quan trọng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.

Một trong các phương pháp điều khiển giảm dao động đơn giản và mang lại hiệu quả cao là sử dụng các bộ giảm chấn động lực. Bài toán điều khiển dao động bằng bộ giảm chấn động lực Bộ giảm chấn động lực (DVA) là một thiết bị điều khiển dao động dạng thụ động, ý tưởng đầu tiên được đề xuất bởi Watt. P [120] vào năm 1883 để giảm rung cho tàu thủy, giúp tàu đỡ chòng chành.H [50] đã cụ thể hóa mô hình bộ giảm chấn động lực này bằng một sáng chế đăng ký tại Mỹ vào năm 1909. DVA từ ý tưởng ban đầu này gồm một khối lượng ma kết nối với khối lượng hệ chính thông qua một lò xo có độ cứng ka , bộ giảm chấn động lực này chưa có yếu tố cản nhớt nên gọi là bộ giảm chấn động lực không cản (hình 1.

Mô hình bộ giảm chấn động lực không cản Nguyên tắc hoạt động của bộ DVA không cản như sau: Dưới tác dụng của ngoại lực kích động, một phần hoặc toàn bộ năng lượng dao động của hệ được truyền sang bộ DVA, khi đó dao động của hệ chính sẽ giảm hoặc bị khử hoàn toàn. Nguyên tắc khử dao động nói trên được giải thích qua mô tả toán học dưới đây: Sử dụng phương trình Lagrange loại 2 hệ phương trình vi phân mô tả dao động của hệ lắp bộ DVA không cản (hình 1.1) thiết lập được như sau: 4 luan an ms  xs   k s  ka  xs  ka xa  F0 sin t (1.1) ma  xa  ka xs  ka xa  0 Ở chế độ dao động bình ổn, nghiệm của hệ phương trình (1.1) có dạng: xs  xˆs sin t ; xa  xˆa sin t (1.1) và giải hệ phương trình ta được các biên độ dao động xˆs và xˆa trong chế độ dao động bình ổn, các công thức nghiệm như sau: F0  ka  ma  2  xˆs  (1.4)  ks  ka  ms   ka  ma 2   ka2 2 Từ biểu thức (1.3) ta thấy rằng: F0  ka  ma  2  xˆs  0 khi   (1.5)  k  k  m   k  m    k s a s 2 a a 2 2 a Hay: ka  ma  2 (1.6) Như vậy, với mô hình hệ chính không cản lắp một bộ DVA không cản người ta có thể thiết kế bộ DVA sao cho ka  ma  2 , khi đó dao động của hệ chính tại tần số Ω được khử hoàn toàn. Thông thường, khối lượng bộ giảm chấn động lực ma được chọn trước, khi đó từ (1.6) ta dễ dàng xác định được độ cứng phần tử lò xo của bộ giảm chấn động lực. Tuy nhiên, khi thiết kế bộ giảm chấn động lực như trên cần chú ý điều kiện sau: Khi chọn ka  ma  2 thì biên độ dao động của DVA là xˆa  F0 / ka.

Khi đó phải chọn ka sao cho biên độ dao động của hệ phụ chấp nhận được, phù hợp với không gian làm việc của kết cấu yêu cầu. Ngoài ra, việc chọn ma phải phụ thuộc vào điều kiện bền của kết cấu, không thể chọn ma quá giới hạn cho phép. Bộ giảm chấn động lực không cản có tác dụng triệt tiêu biên độ dao động của hệ chính chỉ tại tần số kích động bằng tần số dao động riêng của bộ DVA (tần số cộng hưởng). Với tần số kích động trong vùng cộng hưởng có thể biên độ dao động của hệ chính sẽ rất lớn.

Khắc phục nhược điểm này, năm 1928 Den Hartog J.P [46] là người đầu tiên thêm vào bộ giảm chấn động lực yếu tố cản nhớt, đồng thời đề xuất tiêu chuẩn tối ưu và đưa ra lý thuyết toán học cho thiết kế các bộ DVA. Mô hình bộ giảm chấn động lực có yếu tố cản nhớt cho trong hình 1. 5 luan an Hình 1. Mô hình bộ giảm chấn động lực có kể đến yếu tố cản nhớt Sử dụng phương trình Lagrange loại 2 với các tọa độ suy rộng xs và xa là các biên độ dao động của hệ chính và bộ giảm chấn động lực ta thiết lập được hệ phương trình vi phân dao động của cơ hệ hình 1.2 như sau: ms  xs  k s xs  ka ( xs  xa )  ca ( xs  xa )  F0 sin t (1.7) ma  xa  ca ( xa  xs )  ka  xa  xs   0 Bằng phương pháp biên độ phức ta tính được giá trị tuyệt đối của biên độ phức xˆs của hệ chính như sau: 2 2  k m    c  F0 a a 2 a 2 x  xˆ  s s 2 (1.8) 2 2  k m   k m    m k    c   k m   m   2 2 2 2 2 2  s s a a a a a s s a ka k m   Đặt: a2  ; s2  s ; ca  2maa a ;   a ;   ;   s (1.9) ma ms ms s a Thay (1.8) thì xs trở thành: 2 xs  F0   2  2   4 2  2 a2 (1.10) hai tham số  và  a gọi là tỷ lệ tần số và tỷ số cản của bộ giảm chấn động lực.

Nhiệm vụ đặt ra trong trường hợp này là tìm các tham số  và  a để biên độ dao động của hệ chính ( xs ) đạt cực tiểu trong miền tần số cộng hưởng, các tham số tìm được gọi là tỷ lệ tần số tối ưu và tỷ số cản tối ưu, ký hiệu là:  opt và  opt. Bằng lý thuyết hai điểm cố định, Den Hartog [46] đã tìm được biểu thức giải tích tường minh của hai tham số  opt và  opt như dưới đây: 1 3  opt  ;  opt  (1.11) 1  8(1   ) 6 luan an Như vậy, nghiệm giải tích cho các tham số của bộ giảm chấn động lực có cản lắp trên hệ chính không cản đã được giải quyết một cách tường minh, triệt để. Tuy nhiên, trong thực tế hệ chính luôn tồn tại yếu tố cản nên mô hình hệ chính không cản chưa phản ánh sát với mô hình máy hoặc công trình trong thực tế. Mặt khác, đối với một số kết cấu lớn như các tòa nhà cao tầng, tháp cầu, trạm điều khiển không lưu… thì khối lượng hệ chính rất lớn dẫn đến khối lượng của bộ giảm chấn động lực phải lớn thì mới đạt hiệu quả điều khiển dao động mong muốn, điều này dẫn đến kết cấu bộ giảm chấn động lực cồng kềnh và đôi khi khó chế tạo được độ cứng lò xo (ka) và hệ số cản (ca) phù hợp.

Để giải quyết nhược điểm này, người ta lắp nhiều bộ DVAs và thêm yếu tố cản vào hệ chính. Mô hình hệ chính có cản lắp nhiều bộ DVAs có cản được minh họa trên hình 1. Mô hình hệ chính có cản lắp nhiều bộ DVAs có cản Với mô hình này, hệ chính có khối lượng ms có thể mô hình là hệ một, nhiều bậc tự do hay hệ đàn hồi được kết nối với nền thông qua lò xo có độ cứng k s và cản nhớt có hệ số cản cs. Các bộ giảm chấn động lực có khối lượng m j ( j  1, 2,., N ) kết nối với hệ chính thông qua lò xo có độ cứng k j và cản nhớt có hệ số cản c j ( j  1, 2,.

Dưới tác động của ngoại lực, hệ chính xuất hiện dao động, khi tần số lực kích động gần hoặc bằng tần số dao động riêng của hệ chính thì biên độ dao động của hệ tăng lên rất lớn có thể gây hư hại cho máy hoặc công trình. Khi lắp các bộ DVAs, một phần năng lượng dao động của hệ chính được truyền sang các bộ giảm chấn động lực, từ đó biên độ dao động của hệ chính giảm đi. Để tăng hiệu quả của các bộ DVAs và dao động của hệ ổn định trong miền tần số cộng hưởng thì nhiệm vụ đặt ra là phải xác định các tham số k j và c j ( j  1, 2,., N ) sao cho biên độ dao động của hệ chính đạt cực tiểu, đây chính là nội dung của bài toán điều khiển dao động bằng kết hợp nhiều bộ giảm chấn động lực. 7 luan an Kể từ khi xuất hiện bộ giảm chấn động lực không cản đến nay đã có nhiều nghiên cứu nhằm thiết kế tối ưu các tham số của DVA cho cả hệ chính không cản và có cản [1,2,7,17-19,22,23,28,31-34,39,46,55,63,71,85,87].

Tổng quan về nội dung cũng như các kết quả chính của các nghiên cứu về bộ giảm chấn động lực được tổng hợp trong phần dưới đây. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sau ý tưởng của Watt.P [120] và sáng chế của Frahm.H [50] về bộ giảm chấn động lực không cản thì lý thuyết toán học xác định các tham số tối ưu của bộ giảm chấn động lực có cản được Den-Hartog [46] đưa ra trên cơ sở phương pháp hai điểm cố định. Việc thêm vào yếu tố cản nhớt cho phép mở rộng vùng tần số hiệu quả của DVA. Tuy nhiên, Den – Hartog chỉ công bố kết quả mà không đưa ra chứng minh cụ thể.

Các chứng minh cụ thể được cung cấp bởi Hahnkamm [56] và Brock [39]. Phương pháp được các tác giả sử dụng là phương pháp hai điểm cố định với mục tiêu tối thiểu biên độ dao động cực đại của hàm đáp ứng tần số trong vùng cộng hưởng. Các tham số tối ưu của DVA gồm tỷ lệ tần số và tỷ số cản (  opt và  opt ) được đưa ra dưới dạng giải tích gần đúng bởi một số phép xấp xỉ được thực hiện trong các bước biến đổi. Lời giải chính xác cho các tham số tối ưu của mô hình bộ giảm chấn động lực truyền thống (hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu điều khiển tối ưu dao động với bộ giảm chấn động lực" tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều khiển nhằm tối ưu hóa hiệu suất của bộ giảm chấn trong các hệ thống cơ khí. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật điều khiển hiện đại mà còn chỉ ra cách thức cải thiện độ ổn định và giảm thiểu dao động trong các ứng dụng thực tiễn. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích rõ ràng từ việc áp dụng các phương pháp này, bao gồm việc nâng cao hiệu quả hoạt động và kéo dài tuổi thọ của thiết bị.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh liên quan, hãy khám phá thêm về Luận văn thạc sĩ vật lý chất rắn khảo sát ảnh hưởng của sự đồng pha tạp các nguyên tố fe và sn đến tính chất quang điện hóa của vật liệu thanh nano tio2, nơi bạn có thể tìm hiểu về ảnh hưởng của các yếu tố tạp chất đến tính chất vật liệu. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ nghiên cứu thuật toán và xây dựng chương trình xử lý số liệu gnss dạng rinex nhằm phát triển ứng dụng công nghệ định vị vệ tinh ở việt nam sẽ cung cấp cái nhìn về công nghệ định vị hiện đại, có thể liên quan đến việc tối ưu hóa các hệ thống điều khiển. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công nghệ iot và ứng dụng trong hệ thống giám sát chất lượng không khí hà nội sẽ mở rộng thêm về ứng dụng công nghệ trong việc giám sát và điều khiển môi trường, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến nghiên cứu điều khiển tối ưu.