Luận án tiến sĩ về điều khiển công bằng luồng trong mạng chuyển mạch chùm quang

Luận án tiến sĩ phân tích điều khiển công bằng luồng trong mạng chuyển mạch chùm quang, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới cho ngành.

Trường đại học

Đại học Huế

Chuyên ngành

Khoa học máy tính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẠNG CHUYỂN MẠCH CHÙM QUANG

1.1. Các mô hình chuyển mạch trong truyền thông quang

1.2. Nguyên tắc hoạt động của mạng OBS

1.3. Các hoạt động bên trong mạng OBS

1.3.1. Tập hợp chùm

1.3.2. Lập lịch chùm

1.3.3. Xử lý tranh chấp chùm

1.4. Vấn đề công bằng trong mạng OBS

1.4.1. Khái niệm và phân loại công bằng trong mạng OBS

1.4.2. Công bằng độ trễ

1.4.3. Công bằng thông lượng

1.4.4. Công bằng khoảng cách

1.4.5. Kết hợp công bằng thông lượng và công bằng khoảng cách

1.4.6. Đánh giá các giải pháp công bằng tại nút biên mạng OBS

1.5. Các mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.6. Tiểu kết Chương 1

2. TẬP HỢP CHÙM GIẢM ĐỘ TRỄ VÀ CÔNG BẰNG ĐỘ TRỄ

2.1. Mô hình tập hợp chùm giảm độ trễ

2.1.1. Vấn đề độ trễ trong hoạt động tập hợp chùm

2.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan

2.1.3. Phương pháp tập hợp chùm giảm độ trễ iBADR

2.1.4. Phương pháp tập hợp chùm giảm độ trễ OBADR

2.1.5. Ảnh hưởng của trọng số α đến OBADR

2.1.6. Ảnh hưởng của OBADR đến hoạt động lập lịch chùm

2.2. Mô hình tập hợp chùm công bằng độ trễ

2.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan

2.2.2. Phương pháp tập hợp chùm công bằng độ trễ BADF

2.3. Tiểu kết Chương 2

3. CÔNG BẰNG THÔNG LƯỢNG DỰA TRÊN CẤP PHÁT BĂNG THÔNG VÀ ĐẮP CHÙM

3.1. Mô hình cấp phát băng thông công bằng dựa trên thông lượng

3.1.1. Giới thiệu về cấp phát băng thông công bằng

3.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan

3.1.3. Phương pháp cấp phát băng thông công bằng dựa trên thông lượng TFBA

3.1.4. Phân tích ảnh hưởng của TFBA đến việc lập lịch tại liên kết ra

3.2. Mô hình đắp chùm hiệu quả băng thông và công bằng thông lượng

3.2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan

3.2.2. Phương pháp đắp chùm

3.3. Tiểu kết Chương 3

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về công bằng trong mạng chuyển mạch quang

Nghiên cứu điều khiển công bằng luồng trong mạng chuyển mạch quang (OBS) là một lĩnh vực quan trọng trong công nghệ thông tin hiện đại. Mạng OBS cho phép truyền tải dữ liệu với hiệu suất cao, tuy nhiên, vấn đề công bằng giữa các luồng dữ liệu là một thách thức lớn. Công bằng trong mạng OBS được định nghĩa là việc phân phối tài nguyên mạng một cách công bằng cho các luồng khác nhau. Điều này bao gồm việc đảm bảo rằng không có luồng nào bị thiệt thòi trong việc sử dụng băng thông. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình công bằng khác nhau có thể cải thiện hiệu suất tổng thể của mạng. Việc phân loại công bằng thành công bằng độ trễ, công bằng thông lượng và công bằng khoảng cách giúp xác định các phương pháp tối ưu cho việc quản lý tài nguyên trong mạng OBS.

1.1. Các mô hình chuyển mạch trong truyền thông quang

Mạng chuyển mạch quang sử dụng nhiều mô hình khác nhau để tối ưu hóa việc truyền tải dữ liệu. Mô hình chuyển mạch quang truyền thống gặp khó khăn trong việc xử lý các luồng dữ liệu lớn do hạn chế về công nghệ. Mô hình chuyển mạch chùm quang (OBS) đã được phát triển như một giải pháp thay thế, cho phép tách biệt giữa gói điều khiển và dữ liệu. Điều này giúp giảm thiểu độ trễ và tăng cường hiệu suất mạng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp công bằng trong OBS có thể cải thiện đáng kể hiệu suất mạng, đặc biệt trong các tình huống có lưu lượng cao.

1.2. Nguyên tắc hoạt động của mạng OBS

Mạng OBS hoạt động dựa trên nguyên tắc gửi gói điều khiển trước khi truyền dữ liệu. Gói điều khiển này sẽ đặt trước tài nguyên cần thiết cho việc truyền tải chùm dữ liệu. Việc này giúp đảm bảo rằng các luồng dữ liệu có thể được xử lý một cách hiệu quả mà không gặp phải tình trạng tắc nghẽn. Tuy nhiên, để đạt được công bằng trong việc phân phối tài nguyên, cần có các cơ chế lập lịch và xử lý tranh chấp hiệu quả. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình công bằng có thể giúp cải thiện đáng kể hiệu suất của mạng OBS, đặc biệt trong các tình huống có lưu lượng cao.

II. Các hoạt động bên trong mạng OBS

Mạng OBS bao gồm nhiều hoạt động quan trọng như tập hợp chùm, lập lịch và xử lý tranh chấp. Tập hợp chùm là quá trình gộp các gói tin thành một chùm dữ liệu lớn hơn để tối ưu hóa việc truyền tải. Lập lịch là quá trình xác định thứ tự mà các chùm dữ liệu sẽ được truyền đi. Việc xử lý tranh chấp xảy ra khi nhiều luồng dữ liệu cố gắng sử dụng cùng một tài nguyên mạng. Để đảm bảo công bằng, các phương pháp lập lịch cần phải được thiết kế sao cho không có luồng nào bị thiệt thòi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình công bằng có thể giúp cải thiện đáng kể hiệu suất của mạng OBS.

2.1. Tập hợp chùm

Tập hợp chùm là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong mạng OBS. Quá trình này cho phép gộp nhiều gói tin thành một chùm dữ liệu lớn hơn, giúp tối ưu hóa việc sử dụng băng thông. Tuy nhiên, việc tập hợp chùm cũng đặt ra thách thức về công bằng. Nếu không có các cơ chế kiểm soát, một số luồng có thể chiếm ưu thế trong việc sử dụng tài nguyên, dẫn đến tình trạng không công bằng. Các nghiên cứu đã đề xuất nhiều phương pháp để cải thiện quá trình tập hợp chùm, bao gồm việc sử dụng các thuật toán lập lịch thông minh và các mô hình công bằng khác nhau.

2.2. Lập lịch chùm

Lập lịch chùm là quá trình xác định thứ tự mà các chùm dữ liệu sẽ được truyền đi trong mạng OBS. Việc lập lịch hiệu quả không chỉ giúp tối ưu hóa việc sử dụng băng thông mà còn đảm bảo công bằng giữa các luồng dữ liệu. Các mô hình lập lịch hiện tại thường dựa trên các tiêu chí như độ trễ, thông lượng và khoảng cách. Tuy nhiên, để đạt được công bằng, cần có các cơ chế điều chỉnh để đảm bảo rằng không có luồng nào bị thiệt thòi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng các mô hình công bằng trong lập lịch có thể cải thiện đáng kể hiệu suất của mạng OBS.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG BẰNG TRONG MẠNG CHUYỂN MẠCH CHÙM QUANG Sự gia tăng nhanh chóng của các dịch vụ “đói” băng thông trong thời gian gần đây đã đặt ra một nhu cầu lớn về băng thông, vốn đã vượt quá khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng truyền thông Internet hiện có. Tăng khả năng băng thông và giảm chi phí truyền thông đang là động lực cho việc phát triển Internet toàn quang thế hệ mới. Đã có một số đề xuất nhằm tận dụng các lợi thế của truyền thông quang, trong đó các mô hình chuyển mạch quang được đặc biệt quan tâm.

Đề xuất đầu tiên là mô hình chuyển mạch kênh quang (OCS) dựa trên việc định tuyến bước sóng theo một đường quang (lightpath) duy nhất được thiết lập sẵn trên mỗi liên kết từ nguồn đến đích. Một thay thế cho mô hình OCS là chuyển mạch gói quang (OPS), trong đó phần điều khiển của gói quang được chuyển đổi quang/điện/quang (O/E/O) và được xử lý trong môi trường điện tại mỗi nút trung gian, trong khi phần dữ liệu phải chờ một khoảng thời gian nhất định để được chuyển tiếp đến nút tiếp theo [9], [65]. Nhằm cung cấp một cơ sở hạ tầng Internet toàn quang khả thi và linh hoạt, mô hình chuyển mạch chùm quang (OBS) do đó đã được đề xuất [16], [25] với hai đặc điểm khác biệt quan trọng:  Dữ liệu đến từ các mạng truy cập được tập hợp (gộp) thành các chùm (burst) tại nút biên vào của mạng OBS và có thể được ghép kênh theo các cấp độ khác nhau.  Dữ liệu và gói điều khiển được truyền trên các kênh (bước sóng) tách biệt nhau và chỉ có kênh điều khiển phải chịu chi phí chuyển đổi O/E/O.

Chương này của luận án đầu tiên sẽ giới thiệu các mô hình chuyển mạch khác nhau trong truyền thông quang và lý do vì sao OBS là khả thi đối với Internet toàn quang thế hệ tiếp theo. Nguyên tắc hoạt động và các hoạt động bên trong của mạng OBS, như tập hợp, báo hiệu, lập lịch và xử lý tắc nghẽn chùm, sẽ được trình bày tiếp theo, trong đó các giải thuật tập hợp chùm và đặc điểm của luồng sau khi tập hợp sẽ được tập trung mô tả. Các vấn đề công bằng luồng, bao gồm công bằng độ trễ, công 7 luan an bằng thông lượng và công bằng khoảng cách trong mạng OBS theo đó sẽ được phân tích để chỉ ra rằng có một nhu cầu cần có thêm các nghiên cứu mới để tìm ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả công bằng truyền thông trong mạng OBS.1 Các mô hình chuyển mạch trong truyền thông quang Những cải tiến gần đây của kỹ thuật ghép kênh đa bước sóng (WDM) đã cho phép một sợi quang có thể mang đến 256 bước sóng độc lập [1]. Kết quả thực nghiệm của NEC và Alcatel cho thấy rằng mỗi bước sóng có thể truyền dữ liệu với tốc độ 10Tps.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc chuyển đổi dữ liệu giữa hai miền quang và điện đã tạo nên hiện tượng thắt nút cổ chai. Để đạt được tiềm năng về băng thông và các lợi ích của mạng ghép kênh đa bước sóng mang lại thì việc chuyển đổi này phải được tối thiểu hóa. Một vài công nghệ chuyển mạch quang đã được đề xuất nhằm tận dụng lợi thế về khả năng truyền tải tốc độ cao của sợi quang. Những tiếp cận sớm liên quan đến mạng chuyển mạch kênh quang (OCS), trong đó các đường quang (lightpath) điểm–điểm thường được thiết lập trong khoảng thời gian tương đối dài.

Mạng OCS dùng cách truyền gói tin theo kiểu lưu trữ và chuyển tiếp, trong đó mỗi bộ chuyển tiếp (chuyển mạch) quang thực hiện những hoạt động chuyển đổi tín hiệu quang/điện/quang (O/E/O). Tuy nhiên mạng OCS sớm bộc lộ các hạn chế như không dễ dàng hỗ trợ những biến đổi lưu lượng của mạng hoặc những yêu cầu kết nối thay đổi thường xuyên. Giao thức IP đã trở thành một giao thức có ảnh hưởng lớn đối với các dịch vụ mạng trên Internet và có mặt ở khắp mọi nơi, nên đã có nhiều nghiên cứu nhằm tích hợp mạng IP với mạng WDM. Mạng chuyển mạch gói (OPS) đã được đề xuất nhằm hỗ trợ việc tích hợp này.

Với mạng chuyển mạch gói, mỗi gói tin bao gồm phần điều khiển (header) và phần dữ liệu (data) được truyền trong mạng quang. Khi gói tin đến, phần đầu gói tin sẽ được chuyển đổi sang tín hiệu điện và được xử lý, còn phần dữ liệu sẽ được đưa vào các bộ đệm quang, chẳng hạn các cuộn dây làm trễ tín hiệu (FDL), cho tới khi phần đầu gói tin được xử lý hoàn tất. Mạng OPS được dự báo là rất thành công trong việc giải quyết những thiếu sót, hạn chế và kém hiệu quả của mạng OCS. Tuy nhiên, những hạn chế về công nghệ để sản xuất các chuyển mạch tốc 8 luan an độ cao (nano giây) và chi phí quá cao cho những bộ đệm quang hiện nay đã ngăn cản việc triển khai công nghệ này vào thực tế.

Mạng chuyển mạch chùm quang (OBS) đã thu hút các nhà nghiên cứu nhờ khả năng phân phối băng thông động và theo yêu cầu hơn mạng OCS. Nó đem lại nhiều cải tiến mặt kinh tế và cho phép tích hợp việc điều khiển và quản lý. So sánh với OPS, việc lắp đặt hệ thống mạng OBS sẽ thực tế hơn và nó kết hợp được những ưu điểm của cả hai mạng OPS và OCS. Kiến trúc cơ bản của một nút chuyển mạch với các mô hình chuyển mạch khác nhau được thể hiện trong Hình 1.1 So sánh sự khác biệt giữa các loại chuyển mạch quang tại nút lõi OBS [65] Với chuyển mạch kênh quang (OCS), mô hình chuyển mạch trong Hình 1.1a bao gồm một đường quang khi đã được thiết lập thì tất cả dữ liệu vào trên bước sóng λ sẽ đi ra trên cùng bước sóng.

Trung bình, thời gian kết nối của OCS trong vòng 1 phút hoặc lâu hơn và thời gian ngắt kết nối là thường vài trăm mili giây (ms). Các kết 9 luan an nối với thời gian ngắn hơn thường sẽ làm rời rạc việc truyền dữ liệu dẫn đến chi phí điều khiển tăng cao. Hơn nữa, băng thông được phân bổ trên bước sóng λ tại mọi thời điểm là không cần thiết. Trong thực tế, hầu hết các ứng dụng hiện nay chỉ cần kết nối đến bước sóng λ tại một vài thời điểm.

Khi môi trường mạng có sự biến động về mật độ dữ liệu đến thì các chùm được truyền đi có thể chỉ trong vài giây hoặc ít hơn. Để khắc phục các hạn chế của OCS, mô hình chuyển mạch O/E/O đã được giới thiệu như Hình 1. Ở đây phương pháp ghép kênh được thực hiện trong môi trường điện tử và có sử dụng bộ đệm. Vì mỗi đơn vị dữ liệu đều cần phải chuyển đổi O/E/O, phương pháp này là không đủ khả năng mở rộng để hỗ trợ hàng trăm bước sóng với tốc độ 40Gbps hoặc lớn hơn mà có thể đạt được trong tương lai [36].

Mạng chuyển mạch gói quang OPS (Hình 1.1c) chỉ thực hiện chuyển đổi O/E/O đối với phần điều khiển. Một khác biệt quan trọng trong chuyển đổi O/E/O là ở cách tiếp cận, trong đó phần điều khiển có khả năng gửi chậm hơn so với phần dữ liệu của nó và chỉ phần điều khiển được xử lý nên giảm được yêu cầu về tốc độ đối với chuyển đổi O/E/O nhưng vẫn truyền dữ liệu ở tốc độ cao. Tuy nhiên, mạng OPS khó thực hiện được trong tương lai gần vì yêu cầu sử dụng một số lượng lớn các thiết bị chuyển mạch O/E/O cho mỗi bước sóng. Trong mô hình chuyển mạch OBS, chỉ có một vài kênh điều khiển phải chuyển đổi O/E/O như trong Hình 1.

Do phần dữ liệu được truyền trong môi trường toàn quang, nên OBS tách biệt giữa kênh truyền chùm dữ liệu và phần gói điều khiển. Mạng OBS do đó giảm được chi phí chuyển đổi O/E/O mà vẫn đảm bảo xử lý được dữ liệu ở tốc độ cao, tận dụng được những tiến bộ của công nghệ trong tương lai và giải pháp hứa hẹn cho Internet toàn quang thế hệ tiếp theo. Ngoài ra, để giảm thiểu việc mất mát dữ liệu, các đường trễ quang và chuyển đổi bước sóng [9] có thể được sử dụng tại các nút trung gian trong mạng OBS. Đây đang là một thách thức cho các nhà khoa học trong việc chế tạo các thiết bị phù hợp với tốc độ lên tới nano giây, nhưng có thể thực hiện được trong tương lai [18], [67].2 Nguyên tắc hoạt động của mạng OBS Trong mạng OBS, các loại dữ liệu đến khác nhau được tập hợp tại nút biên vào 10 luan an và được truyền dưới dạng các chùm (burst) (Hình 1.

Tại nút biên ra, các chùm sẽ được tách thành các gói dữ liệu ban đầu để chuyển đến đích mong muốn (Hình 1.2 Quá trình tập hợp chùm và tách chùm tại các nút biên OBS [65] Hình 1.3 mô tả sự tách biệt giữa kênh truyền dữ liệu và kênh truyền gói điều khiển. Mỗi chùm sẽ có một gói điều khiển chứa thông tin về độ dài chùm nhằm đặt trước tài nguyên tại mỗi nút trung gian; chùm dữ liệu theo sau một khoảng thời gian offset mà khoảng thời gian này cần tính toán đủ để gói điều khiển kịp đặt trước tài nguyên tại mỗi nút trung gian. Trên mỗi kênh điều khiển, có thể có nhiều gói điều khiển; mỗi gói điều khiển được chuyển đổi O/E/O tại mỗi nút trung gian để cấu hình các chuyển mạch. Thời gian offset nhằm để bù đắp cho sự chậm trễ của quá trình cấu hình chuyển mạch tại mỗi nút.

Nếu thời gian offset đủ lớn thì các chùm dữ liệu sẽ được chuyển tiếp mà không phải chịu bất kỳ một độ trễ nào tại các nút trung gian. Với cách truyền tải này, bộ đệm quang là không cần thiết tại mỗi nút trung gian.3 Sự tách biệt giữa kênh điều khiển và kênh truyền dữ liệu [65] 11 luan an 1.3 Các hoạt động bên trong mạng OBS 1.1 Tập hợp chùm Tập hợp chùm là một phương pháp gộp các gói tin từ nhiều mạng truy cập khác nhau (chẳng hạn như các gói IP, ATM…) thành các chùm có kích thước lớn hơn tại nút biên vào của mạng OBS. Kiến trúc nút biên mạng OBS có thể được mô tả như trong Hình 1.4, bao gồm các đơn vị tập hợp chùm để gộp các gói tin thành các chùm. Thông thường người ta sẽ sử dụng một hàng đợi cho mỗi đích đến và mỗi lớp QoS.

Một chùm sau khi tập hợp sẽ được lập lịch trên một trong các kênh ra khả dụng bởi gói điều khiển tương ứng của nó, đồng thời thời gian offset được điều chỉnh một cách phù hợp trước khi nó được chuyển vào mạng lõi [67].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về điều khiển công bằng luồng trong mạng chuyển mạch chùm quang" của tác giả Lê Văn Hòa, dưới sự hướng dẫn của PGS. Võ Viết Minh Nhật và TS. Nguyễn Hoàng Sơn, được thực hiện tại Đại học Huế vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào nghiên cứu các phương pháp điều khiển công bằng luồng trong mạng chuyển mạch quang, một lĩnh vực quan trọng trong khoa học máy tính và viễn thông. Nội dung của luận án không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về cách thức quản lý và tối ưu hóa lưu lượng trong mạng quang mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn cho việc cải thiện hiệu suất mạng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến viễn thông và mạng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau:

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về các vấn đề liên quan đến mạng và viễn thông.