Chương I: Tổng quan về mạng quang học thế hệ mới 1. Giới thiệu chung Kĩ thuật ghép kênh phân chia theo bước sóng WDM (Wavelength Division Mutiplexing) được coi là cuộc cách mạng về băng thông trong mạng xương sống Internet và hơn thế nữa. Nhu cầu băng thông đang gia tăng một cách nhanh chóng với nhiều ứng dụng mới phong phú, chẳng hạn như thương mại điện tử, video theo yêu cầu, các công việc đòi hỏi hoạt động đồng bộ trên toàn cầu. Mạng quang WDM đã đưa ra hứa hẹn hết sức ý nghĩa cho nhu cầu bức thiết trên.
Khi sợi quang được sử dụng để truyền thông tin thì thách thức được đặt ra đối với chúng ta trong giai đoạn mới trước nhu cầu thông tin ngày càng tăng mạnh mẽ của con người. Khi mà ngày càng có nhiều người bắt đầu sử dụng các mạng dữ liệu và cứ mỗi lần sử dụng đó cũng đã chiếm một băng thông đáng kể trong các ứng dụng thông tin của họ chẳng hạn như đọc lướt thông tin trên các trang web, các ứng dụng sử dụng game online, hội nghị truyền hình, video theo yêu cầu … Từ đó cho thấy nhu cầu thông tin băng rộng đặt ra hết sức bức thiết, và nhu cầu này còn vượt xa hơn nữa trong tương lai.1 cho thấy sự gia tăng băng thông của các mạng khác nhau qua các năm. Sự phát triển mạnh mẽ này chủ yếu là do sự triển khai các hệ thống thông tin quang.1: Sự gia tăng băng thông của các mạng khác nhau qua các năm [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 5 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO Để thích ứng với sự phát triển không ngừng đó và thoả mãn yêu cầu tính linh hoạt về thay đổi mạng, các công nghệ truyền dẫn khác nhau đã được nghiên cứu, triển khai thử nghiệm và đưa vào ứng dụng như kĩ thuật TDM, CDM. Công nghệ ghép kênh phân chia theo bước sóng WDM được ưa chuộng hơn cả.
Điều này là do công nghệ TDM có chi phí kĩ thuật và thiết bị lắp đặt hệ thống tương đối cao, đặc biệt trong TDM gây lãng phí một số kênh thông tin khi mỗi khe thời gian được dự trữ ngay cả khi không có dữ liệu để gửi và phía thu khó khăn khi phân biệt các khe thời gian thuộc về kênh nào để giải ghép kênh tín hiệu. Bên cạnh đó, ghép kênh phân chia theo mã CDM còn tồn tại những hạn chế về kĩ thuật như tốc độ điều chế và suy hao trong mã hoá cũng như giải mã cao. WDM là tiến bộ rất lớn trong công nghệ truyền thông quang, nó cho phép tăng dung lượng kênh mà không cần tăng tốc độ bit đường truyền cũng như không cần dùng thêm sợi dẫn quang.2: Hệ thống TDM Hình 1.3: Hệ thống WDM Với WDM, mỗi kênh với một bước sóng khác nhau và các bước sóng ánh sáng này không ảnh hưởng lẫn nhau bởi vì chu kì dao động của các các kênh khác nhau là hoàn toàn độc lập nhau. Khác với hệ thống TDM, mỗi phần tử kênh WDM có thể hoạt động ở tốc độ bất kì và mỗi kênh cũng có thể mang đầy dung lượng của mỗi bước [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 6 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO sóng.
Chương này sẽ trình bày rõ nguyên lí hoạt động của hệ thống WDM và các thành phần của nó. Nguyên lý hoạt động của WDM Ngày nay, nhu cầu của con người về các dịch vụ thông tin băng rộng ngày một tăng lên, thì mạng ghép kênh đa bước sóng WDM đã thoả mãn được nhu cầu đó. Theo kĩ thuật này, các luồng ánh sáng với các bước sóng khác nhau được truyền trên cùng một sợi quang. Mỗi bước sóng mang một dung lượng điển hình, thuờng là 2.4: Nguyên lí ghép kênh phân chia theo bước sóng Nguyên lí cơ bản của ghép kênh theo bước sóng là ghép tất cả các bước sóng khác nhau của nguồn phát quang vào cùng một sợi dẫn quang nhờ bộ ghép kênh MUX và truyền dẫn các bước sóng này trên cùng sợi quang.
Khi đến đầu thu, bộ tách kênh quang sẽ phân tách để thu nhận lại các bước sóng đó. Với cùng một nguyên lí hoạt động có hai loại truyền dẫn trong WDM, đó là: truyền dẫn một chiều và truyền dẫn hai chiều một sợi. Hệ thống WDM một chiều: có nghĩa là tất cả các kênh cùng trên một sợi quang truyền dẫn theo cùng một chiều. [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 7 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO Hệ thống WDM hai chiều: có nghĩa là kênh quang trên mỗi sợi quang truyền dẫn theo hai hướng khác nhau, dùng các bước sóng tách rời nhau để thông tin hai chiều.
Kênh 1 Kênh 1 Nguồn λ1 Thu λ1 Kênh 2 một sợi Kênh 2 Nguồn λ2 quang Thu λ2 Thiết bị Thiết bị WDM λ1 , λ2 ,., λn WDM Kênh n Kênh n Nguồn λn Thu λn (a) Kênh vào Kênh ra Nguồn λ1 Thu λ1 Thiết bị λ1 WDM Kênh ra Thiết bị Kênh vào Thu λ2 WDM λ2 Nguồn λ2 (b) Hình 1.5: Hệ thống WDM theo một hướng (a) và hai hướng (b) 1. Ưu điểm của hệ thống WDM Có khả năng tạo dung lượng lớn chỉ trên một sợi quang, và có thể đạt dung lượng lớn hơn khi sử dụng kĩ thuật DWDM (Dense WDM: ghép kênh phân chia theo bước sóng mật độ cao). [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 8 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO Hệ thống WDM thuận tiện khi cho phép truyền dẫn đồng thời tín hiệu không đồng nhất. Có khả năng truyền dẫn tín hiệu hai chiều.
Vấn đề tồn tại của hệ thống WDM và hướng giải quyết trong tương lai Với hệ thống WDM, sợi quang cung cấp cho chúng ta tốc độ truyền mong muốn nhưng băng thông mạng lại bị giới hạn bởi tốc độ xử lí ở các nút, do tốc độ xử lí ở các nút được thực hiện bằng điện tử, mà tốc độ điện tử lại thấp hơn rất nhiều so với tốc độ thông tin truyền trong sợi quang (khoảng vài Gbps). Như vậy, tín hiệu quang trên sợi khi đến nút sẽ được chuyển thành tín hiệu điện để thực hiện xử lí điện tử (sự chuyển đổi quang- điện O/E), sau đó được chuyển lại thành tín quang để truyền đi. Điều này đã làm giảm tốc độ mạng, giải pháp đặt ra là xây dựng mạng mà trong đó tín hiệu được xử lí hoàn toàn trong miền quang, gọi là mạng toàn quang. Trong mạng toàn quang, dữ liệu đi từ nguồn đến đích hoàn toàn dưới dạng quang mà không cần bất cứ sự chuyển đổi quang- điện nào trên đường đi, việc điều khiển xử lí chuyển mạch cũng được thực hiện dưới dạng quang.
Tuy nhiên, mạng toàn quang hiện tại vẫn chưa được tiến hành thành công bởi những tồn tại của nó. Các thiết bị logic hoàn toàn trong miền quang khó thực hiện hơn nhiều so với các thiết bị logic điện tử. Bởi vì, khác với các electron thì các photon không tương tác ảnh hưởng lẫn nhau, thường thì các thiết bị logic phức tạp đều được tạo ra bằng cách sử dụng công nghệ điện tử. Bên cạnh đó, các trạm lặp bằng quang cũng rất khó thực hiện hơn nhiều so với các trạm lặp điện tử mặc dù các trạm lặp trong mạng toàn quang được đặt ở những khoảng cách định kì rất xa nhau.
Chuyển mạch quang Hầu hết các thiết bị mạng ngày nay đều dựa trên tín hiệu điện, điều đó có nghĩa tín hiệu quang cần chuyển đổi sang tín hiệu điện để được khuếch đại, tái tạo hoặc chuyển mạch và sau đó được chuyển đổi trở lại tín hiệu quang. Điều này nói đến sự chuyển [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 9 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO đổi optical-to-electronic-to-optical (O-E-O) và là công việc cốt lõi hết sức có ý nghĩa trong việc truyền tín hiệu. Số lượng lớn tín hiệu đi qua mạng quang cần được chuyển mạch qua các điểm khác nhau, được gọi là các node. Thông tin đến node sẽ được chuyển về phía trước theo hướng đến nơi mà nó được gửi tới qua đường tốt nhất có thể, con đường này có thể xác định bởi các yếu tố như khoảng cách, chi phí, độ tin cậy, băng thông… của tuyến đó.
Cách chuyển đổi tín hiệu để thực hiện chuyển mạch là để tách ánh sáng từ những đầu vào sợi quang, chuyển đổi nó sang tín hiệu điện và sau đó chuyển đổi trở lại tín hiệu ánh sáng laser, tín hiệu này được gởi đi trong sợi quang. Vấn đề cơ bản của chuyển mạch quang là thay thế sự tồn tại của chuyển mạch mạng điện bằng mạng toàn quang, sự cần thiết của việc chuyển đổi O-E-O được loại bỏ. Những thuận lợi của khả năng này khi tránh được việc chuyển đổi O-E-O là điều hết sức ý nghĩa. Đầu tiên chuyển mạch quang có thể rẻ hơn bởi vì không cần nhiều tín hiệu điện tốc độ cao đắt tiền.
Các bộ chuyển mạch quang cho nhiều ứng dụng trong mạng quang. Mỗi ứng dụng yêu cầu thời gian chuyển mạch và số cổng chuyển mạch khác nhau. Một ứng dụng của chuyển mạch quang là cung cấp các lightpath. Với ứng dụng này, chuyển mạch được sử dụng bên trong bộ kết nối chéo nhằm cấu hình lại chúng để cung cấp các lightpath mới.
Một phần mềm được thêm vào để quản lí mạng từ đầu cuối đến đầu cuối. Vì thế với ứng dụng này, các bộ chuyển mạch với thời gian chuyển mạch mili giây (ms) có thể chấp nhận, nhưng các bộ chuyển mạch ở đây đòi hỏi phải có kích thước lớn. Một ứng dụng quan trọng khác là chuyển mạch bảo vệ. Ở đây các chuyển mạch được sử dụng để chuyển các luồng lưu lượng từ sợi chính sang sợi khác trong trường hợp sợi chính gặp sự cố.
Toàn bộ hoạt động như thời gian tìm ra lỗi, thông tin lỗi đến các phần tử mạng điều khiển việc chuyển mạch và quá trình chuyển mạch thực sự đòi hỏi phải hoàn thành trong thời gian rất ngắn. Có thể có nhiều dạng chuyển mạch bảo vệ [Học viên: Cao Xuân Hải – Lớp: XLTT&TT khóa 2007-2009] Trang 10 Định tuyến và gán bước sóng tĩnh trong mạng WDM bằng phương pháp PSO khác nhau, phụ thuộc vào phương pháp được sử dụng, số các cổng chuyển mạch cần thiết có thể thay đổi từ hàng trăm đến hàng ngàn cổng khi sử dụng trong các bộ kết nối chéo bước sóng. So với hệ thống WDM một chiều, hệ thống WDM hai chiều giảm được số lượng bộ khuếch đại và đường dây.