Tổng quan nghiên cứu

Huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ vị trí tiền tiêu chiến lược về an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển miền Trung. Theo các tư liệu lịch sử để lại, diện tích tự nhiên của đảo từng đạt khoảng 20 km2, nhưng đến nay số liệu thống kê ghi nhận diện tích chỉ còn khoảng 10,7 km2, đồng nghĩa với việc đảo đã bị xâm thực và sạt lở mất gần một nửa diện tích trong hơn một thế kỷ qua. Hiện tượng xói lở bờ đảo đang đe dọa nghiêm trọng tới môi trường sống của hơn 21.342 cư dân với mật độ dân số cao lên đến 2.067 người/km2, trong đó khoảng 60% hộ dân phụ thuộc vào nghề biển và 30% sản xuất nông nghiệp đặc thù.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự suy thoái đường bờ nghiêm trọng dưới tác động của các yếu tố khí tượng hải văn cực đoan, biến đổi khí hậu toàn cầu và các đợt sóng bão có chiều cao cực đại lên tới 6,0 m. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là giải mã bức tranh thủy thạch động lực ven bờ, mô phỏng trường dòng chảy và xu thế vận chuyển bùn cát theo mùa, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình tối ưu nhằm ổn định bờ đảo Lý Sơn.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào vùng ven bờ đảo lớn Lý Sơn (15°22'00'' đến 15°23'00'' vĩ độ Bắc, 109°05'50'' đến 109°08'20'' kinh độ Đông) với chuỗi số liệu khí tượng hải văn từ năm 1985 đến năm 2012 cùng đợt khảo sát chi tiết tháng 12/2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở định lượng để bảo vệ diện tích đất ở, duy trì 290 ha đất canh tác nông nghiệp và bảo vệ bền vững hệ thống hạ tầng kỹ thuật ven bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thủy động lực học vùng ven biển và động lực học trầm tích. Khung lý thuyết chủ đạo bao gồm hệ phương trình Navier-Stokes trung bình Reynolds (RANS) cho chất lỏng không nén được hai chiều, kết hợp giả thiết Boussinesq và giả thiết phân bố áp suất thủy tĩnh để mô tả chuyển động của khối nước dưới tác động của gió, triều và sóng. Bên cạnh đó, lý thuyết bảo toàn mật độ tác động sóng ngẫu nhiên (Wave Action Conservation Equation) được áp dụng để xác định quy luật lan truyền, khúc xạ, tiêu tán năng lượng do sóng vỡ và ma sát đáy thềm lục địa theo phổ JONSWAP.

Các khái niệm then chốt trong nghiên cứu bao gồm: cơ chế dòng chảy dọc bờ sinh ra bởi sóng vỡ (Longshore Currents), sự biến dạng phổ sóng nước nông, cân bằng bùn cát ven bờ và chỉ số đánh giá độ tin cậy mô hình Nash-Sutcliffe. Các mô hình lý thuyết này giúp lượng hóa tương tác phức tạp giữa trường sóng gió mùa Đông Bắc và địa hình đáy phân bậc có độ sâu trung bình 50-60 m bao quanh thềm đảo.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm bản đồ địa hình ven bờ tỷ lệ 1/2000 với đường đồng mức 1,0 m đo đạc tháng 12/2012 của Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, kết hợp hải đồ tỷ lệ 1/25000 khu vực ngoài khơi do Bộ Tư lệnh Hải quân xuất bản năm 2012. Chuỗi dữ liệu kiểm định gồm 744 mẫu mực nước theo giờ (từ ngày 01/12 đến 31/12/2012) tại trạm Cầu Tàu An Vĩnh và 1.728 bộ dữ liệu vận tốc dòng chảy 13 tầng đo đạc liên tục với tần suất 10 phút/mẫu (từ 17/12 đến 29/12/2012) bằng máy đo sóng - dòng chảy chuyên dụng AWAC.

Phương pháp mô hình toán số 2 chiều được thực hiện thông qua bộ phần mềm MIKE của Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI), tích hợp mô đun sóng MIKE 21 SW và mô đun thủy lực MIKE 21 HD. Miền tính toán có kích thước 24,14 km theo phương ngang và 21,87 km theo phương đứng, được rời rạc hóa bằng lưới phi cấu trúc gồm 4.851 phần tử với góc nhỏ nhất đạt 26 độ và diện tích ô lưới tối đa 400.000 m2. Các phương trình đạo hàm riêng được giải bằng sơ đồ sai phân hữu hạn QUICKEST kết hợp kỹ thuật hướng luân phiên ẩn (ADI Double Sweep). Phương pháp này được lựa chọn nhờ khả năng mô phỏng chân thực đường bờ phức tạp, đảm bảo độ ổn định số học cao và phản ánh chính xác tương tác sóng - dòng chảy ven đảo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy động lực mang lại độ chính xác rất cao. Chỉ số tương quan Nash-Sutcliffe giữa mực nước thực đo và tính toán đạt F2 = 0,90 (vượt xa ngưỡng chuẩn cho phép 0,80), thể hiện sự trùng khớp gần như tuyệt đối về cả pha dao động và biên độ mực nước với độ lớn triều trung bình dao động 1,2 - 2,0 m. Về trường dòng chảy, kết quả mô phỏng tái hiện chính xác xu thế biến đổi vận tốc theo chu kỳ triều lên và triều xuống.

Phân tích chế độ khí tượng thủy văn cho thấy gió cực đại trên đảo đạt 36 m/s theo hướng Bắc, trong khi mùa gió Đông Bắc (tháng 10 đến tháng 4 năm sau) duy trì tốc độ gió trung bình 5-10 m/s, tạo ra các đợt sóng có chiều cao trung bình 1,3 m và cực đại lên tới 3,8 - 6,0 m. Khảo sát thực địa và phân tích hình thái cho thấy 3 phía Tây, Nam và Đông của đảo cơ bản đã được cứng hóa ổn định bằng hệ thống kè bê tông cốt thép. Điểm nóng xói lở nghiêm trọng nhất tập trung hoàn toàn tại dải bờ phía Bắc với tổng chiều dài hơn 6,1 km. Cụ thể, đoạn 2 (từ D2 đến D3 dài 1,10 km) có cấu tạo nền cát pha và đoạn 4 (từ D4 đến D5 dài 1,80 km) chịu tác động trực diện của sóng hướng Đông Bắc có vận tốc dòng chảy ven bờ lớn, làm xói sâu đường bờ thành các vệt răng cưa nguy hiểm.

Thảo luận kết quả

Hiện tượng xâm thực mạnh tại bờ Bắc đảo Lý Sơn bắt nguồn từ sự kết hợp của nhiều yếu tố động lực học biển và hoạt động nhân sinh. Vào mùa gió Đông Bắc, sóng mang năng lượng cực lớn truyền từ vùng nước sâu vào thềm bãi nông bị vỡ đột ngột, sinh ra dòng chảy dọc bờ mạnh cuốn trôi lượng lớn bùn cát mịn về phía Tây Nam. Đồng thời, nền địa chất núi lửa bazan chiếm 70% diện tích đảo tạo nên các vách đá dựng đứng xen kẽ với các dải trầm tích cát hạt trung đến thô tuổi Holocen có liên kết yếu, rất dễ bị bóc mòn. Thêm vào đó, việc người dân địa phương khai thác cát ven bờ phục vụ canh tác khoảng 290 ha hành tỏi (đạt sản lượng 1.650 tấn/năm) đã làm mất cân bằng nghiêm trọng nguồn trầm tích tự nhiên bảo vệ chân bờ.

Các kết quả tính toán có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ véc-tơ trường dòng chảy theo từng kịch bản hướng sóng (NE, ENE, SSE) và bảng thống kê năng lượng sóng tương đương nhằm xác định chính xác các vị trí tập trung ứng suất cắt đáy. So sánh với các nghiên cứu động lực học bờ biển tại miền Trung của các cơ quan chuyên môn, mô hình nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết mức độ biến đổi đường bờ của một đảo núi lửa tiền tiêu, chứng minh tính cấp thiết của việc xây dựng công trình kè kiên cố kết hợp đê giảm sóng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng thủy thạch động lực và điều kiện địa hình thực tế, nghiên cứu đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ:

  1. Xây dựng kè cứng bảo vệ bờ trực tiếp: Triển khai xây dựng tuyến kè lát mái bằng tấm bê tông đúc sẵn trong khung dầm bê tông cốt thép kết hợp tường đỉnh chắn sóng cho 1,10 km đoạn 2 (D2-D3) và 1,80 km đoạn 4 (D4-D5) tại bờ Bắc đảo, đảm bảo khả năng triệt tiêu 80-90% năng lượng sóng tràn trong mùa bão lũ. Thời gian thực hiện: giai đoạn 2018-2022 do UBND tỉnh Quảng Ngãi và Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các công trình Nông nghiệp và PTNT làm chủ thể chủ trì.
  2. Bố trí công trình giảm sóng gián tiếp: Thiết kế bổ sung hệ thống đê ngầm phá sóng ngoài khơi kết hợp kè mỏ hàn chữ T hoặc chữ L tại các vị trí đáy nông có nền đá ngầm nhằm tạo vùng nước tĩnh phía sau, nâng cao hiệu quả giữ lại trên 70% lượng bùn cát bồi lắng tự nhiên cho bãi. Thời gian thực hiện: giai đoạn 2020-2025.
  3. Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và giám sát: Thiết lập trạm quan trắc tự động kết hợp ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) nhằm theo dõi biến động đường bờ định kỳ 6 tháng/lần, kịp thời phát hiện nguy cơ sụt lún công trình. Thời gian thực hiện: bắt đầu từ năm 2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ngãi phụ trách.
  4. Quản lý quy hoạch và sử dụng tài nguyên cát: Hoàn thiện quy hoạch hành lang an toàn bảo vệ bờ đảo tối thiểu 50-100 m; ban hành quy chế nghiêm cấm khai thác cát ven bãi phục vụ nông nghiệp và hỗ trợ người dân chuyển đổi sang các loại giá thể canh tác thay thế cát biển. Thời gian thực hiện: thường niên từ năm 2018 do UBND huyện đảo Lý Sơn trực tiếp quản lý và giám sát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: UBND tỉnh Quảng Ngãi, UBND huyện Lý Sơn và Sở Nông nghiệp & PTNT có thể sử dụng số liệu mô phỏng để lập quy hoạch không gian biển, xây dựng phương án phòng chống thiên tai và bảo vệ an toàn cho 21.342 cư dân cùng hệ thống 22,41 km đường giao thông quanh đảo.
  2. Các đơn vị tư vấn thiết kế và doanh nghiệp xây dựng công trình thủy: Các kỹ sư công trình biển có thể trực tiếp ứng dụng các thông số tính toán về chiều cao sóng thiết kế 6,0 m, vận tốc dòng chảy và hệ số nhám Nikuradse 0,28 vào việc định hình kết cấu thân kè, chân khay và tường chắn sóng.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận văn là tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng bộ mô hình MIKE 21 (SW/HD) trên lưới phi cấu trúc, phương pháp hiệu chỉnh thông số và kỹ thuật kiểm định bằng chỉ số Nash-Sutcliffe trong ngành Xây dựng công trình thủy.
  4. Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn: Cán bộ điều hành có thể sử dụng các kịch bản lan truyền sóng và trường dòng chảy cực đoan để xây dựng phương án sơ tán dân cư ven bờ và bảo vệ an toàn cho các khu neo đậu tàu thuyền khi có bão đổ bộ.

Câu hỏi thường gặp

Đâu là nguyên nhân chính khiến đảo Lý Sơn bị mất gần 50% diện tích trong hơn một thế kỷ? Nguyên nhân chủ yếu do tác động liên tục của sóng biển năng lượng cao mùa gió Đông Bắc (sóng cao cực đại tới 6,0 m), nền địa chất bờ phân hóa mạnh giữa đá bazan và cát bở rời, kết hợp với tập quán khai thác cát biển gần bờ kéo dài phục vụ trồng hành tỏi làm bãi biển bị hạ thấp và gia tăng xói lở chân bờ.

Tại sao nghiên cứu lựa chọn mô hình MIKE 21 thay vì các mô hình 1 chiều truyền thống? Mô hình MIKE 21 sử dụng lưới phi cấu trúc linh hoạt với 4.851 phần tử, cho phép mô phỏng đồng thời và chính xác tương tác phi tuyến phức tạp giữa trường sóng 2D (MIKE 21 SW) và dòng chảy tổng cộng (MIKE 21 HD) trên toàn bộ miền tính rộng 24,14 km x 21,87 km quanh đảo.

Giải pháp trồng rừng ngập mặn bảo vệ bờ có thể áp dụng cho đảo Lý Sơn hay không? Giải pháp mềm bằng rừng ngập mặn hoàn toàn không khả thi tại Lý Sơn do đặc thù địa chất ven bờ chủ yếu là đá núi lửa ngầm, cát sạn thô và chế độ sóng gió rất khắc nghiệt. Do đó, giải pháp công trình cứng kiên cố như kè lát mái và đê ngầm giảm sóng là lựa chọn tối ưu bắt buộc.

Độ tin cậy của kết quả mô phỏng trong luận văn được đánh giá qua tiêu chí nào? Độ chính xác của mô hình được kiểm định nghiêm ngặt bằng số liệu thực đo của 744 bước thời gian mực nước và 17.280 bước thời gian dòng chảy từ máy AWAC. Chỉ số Nash-Sutcliffe đạt mức rất cao F2 = 0,90, chứng minh sự tương đồng vượt trội giữa tính toán và thực tế.

Việc phân chia bờ Bắc thành 4 đoạn nghiên cứu mang lại ý nghĩa kỹ thuật gì? Việc chia 6,1 km bờ Bắc thành 4 đoạn (D1-D2, D2-D3, D3-D4, D4-D5) giúp nhận diện rõ tính chất địa mạo riêng biệt của từng cung bờ (vách đá kiên cố hay bãi cát yếu), từ đó đề xuất đúng giải pháp công trình phù hợp cho từng vị trí mà không gây lãng phí kinh phí đầu tư.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn và khoa học bài toán ổn định bờ đảo Lý Sơn thông qua 5 đóng góp trọng tâm:

  • Thiết lập bức tranh toàn diện về chế độ khí tượng hải văn khu vực Lý Sơn với các đặc trưng cực trị về gió 36 m/s, sóng bão 6,0 m và chế độ nhật triều không đều.
  • Xây dựng và kiểm định thành công bộ mô hình thủy động lực 2 chiều MIKE 21 trên lưới phi cấu trúc 4.851 phần tử với chỉ số Nash-Sutcliffe đạt F2 = 0,90.
  • Xác định dải bờ phía Bắc dài hơn 6,1 km là khu vực xung yếu nhất chịu tác động xói lở nghiêm trọng do chưa có công trình bảo vệ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình cứng kết hợp đê ngầm giảm sóng và công tác quy hoạch quản lý cát biển bền vững.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa có độ tin cậy cao phục vụ công tác quy hoạch phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia.

Trong giai đoạn tiếp theo (2020-2030), việc sớm bố trí nguồn vốn đầu tư hoàn thiện tuyến kè bờ Bắc đảo Lý Sơn là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và đời sống nhân dân trên đảo tiền tiêu.