chương 1, tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về thẻ tín dụng như đưa ra những hiểu biết cơ bản về khái niệm, đặc điểm của thẻ tín dụng. Từ những đặc điểm đặc trưng của thẻ tín dụng, tác giả cũng nghiên cứu các chủ thể tham gia vào hoạt động dịch vụ thẻ tín dụng như chủ thẻ, tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, đơn vị chấp nhận thẻ. Ngày nay, thanh toán bằng thẻ tín dụng đã trở thành xu hướng trên toàn Thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, việc sử dụng thẻ tín dụng đã khắc phục được rất nhiều điều bất tiện khi thanh toán bằng tiền mặt, do đó mang lại nhiều tiện ích phục vụ cho các nhu cầu xã hội với sự chính xác và an toàn cao nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động thanh toán bằng thẻ tín dụng. Vì vậy, tác giả cũng đã tìm hiểu thêm về các nội dung điều chỉnh pháp luật về dịch vụ thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại để từ đó nêu lên sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến thẻ tín dụng, pháp luật được Nhà nước sử dụng để làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực liên quan đến thẻ tín dụng.
Tuy nhiên, để có thể tìm hiểu cặn kẽ hơn các vấn đề pháp lý về dịch vụ thẻ tín dụng thì phải hiểu được về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về dịch vụ thẻ tín dụng tại Việt Nam hiện nay từ đó sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề cần quan tâm như: cơ sở pháp lý, các quan hệ pháp lý phát sinh từ dịch vụ thẻ tín dụng. 19 luan an CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Thực trạng pháp luật về dịch vụ thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay 2.1 Các quy định pháp luật về dịch vụ thẻ tín dụng Các văn bản pháp luật như Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 06 năm 2019 của Ngân hàng nhà nước quy định hoạt động thẻ ngân hàng (gọi tắt là Thông tư 19/2016/TT-NHNN), Thông tư 26/2017/TT-NHNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Ngân hàng nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 06 năm 2016 (gọi tắt là Thông tư 26/2017/TT-NHNN), Thông tư 41/2018/TT-NHNN ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Ngân hàng nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 06 năm 2016 (gọi tắt là Thông tư 41/2018/TT-NHNN),… quy định về dịch vụ thẻ tín dụng với những nội dung cơ bản sau: Các quy định về phát hành thẻ: Việc phát hành thẻ sẽ do tổ chức phát hành thẻ phát hành, theo đó tổ chức phát hành thẻ là ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng chính sách phát hành thẻ, công ty tài chính,… Về thủ tục phát hành thẻ, Ngân hàng nhà nước quy định rõ tại Điều 10 Thông tư 19/2016/TT-NHNN, theo đó tổ chức phát hành thẻ phải ban hành quy định nội bộ về phát hành thẻ áp dụng trong hệ thống của mình, theo đó các tổ chức phát hành thẻ phải ban hành các quy trình nghiệp vụ về phát hành thẻ và những biện pháp kiểm soát việc sử dụng thẻ đúng thỏa thuận như 20 luan an không cho phép lợi dụng thẻ tín dụng để sử dụng vào mục đích không đúng quy định: sử dụng hạn mức thẻ tín dụng để chuyển tiền, ghi có vào tài khoản thanh toán, rút tiền mặt tại POS (là các loại thiết bị đọc thẻ, thiết bị đầu cuối được cài đặt và sử dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ mà chủ thẻ có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ) của đơn vị chấp nhận thẻ, thanh toán hàng hóa, dịch vụ không đúng quy định. Trước khi phát hành loại thẻ mới hoặc thay đổi mẫu thẻ đã phát hành, tổ chức phát hành thẻ gửi thông báo về mẫu thẻ phát hành cho Ngân hàng nhà nước theo mẫu, trường hợp phát hành thẻ phi vật lý, tổ chức phát hành thẻ gửi tài liệu phát hành thẻ phi vật lý kèm theo thông báo. Quy định này tại Điều 1 Thông tư 26/2017/TT-NHNN ngày 29/12/2017 khác với quy định trước đây là mẫu thẻ phải được đăng ký với Ngân hàng nhà nước, sau khi được xác nhận thì tổ chức phát hành thẻ mới được phát hành loại thẻ đã đăng ký [11].
Đối với thẻ tín dụng thì tổ chức phát hành thẻ phải yêu cầu chủ thẻ chính có tài khoản thanh toán mở tại tổ chức phát hành thẻ. Thỏa thuận về việc phát hành thẻ phải được lập thành hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tổ chức phát hành thẻ phải yêu cầu chủ thẻ cung cấp đầy đủ thông tin, giấy tờ cần thiết nhằm nhận biết khách hàng trước khi ký hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ với khách hàng. Tổ chức phát hành thẻ phải sử dụng BIN do Ngân hàng nhà nước cấp và tổ chức phát hành thẻ không được thỏa thuận với các tổ chức khác nhằm mục đích hạn chế hay ngăn chặn việc phát hành thẻ đồng thương hiệu. Hiện nay, chưa có quy định cụ thể về giới hạn số lượng thẻ tín dụng mà một chủ thẻ có thể sử dụng.
Điều này có thể dẫn đến tình trạng một chủ thẻ có nhiều thẻ tín dụng, tổng hạn mức cao gấp nhiều lần so với thu nhập, vượt khả năng chi trả của họ, nguy cơ vỡ nợ cao, gia tăng rủi ro cho các tổ chức phát hành thẻ. Ngoài ra cũng dẫn đến nhiều bất cập trong các quy định của Ngân hàng nhà nước về giới hạn hạn mức giao dịch (nhiều thẻ thì có thể giao dịch gấp nhiều lần hạn mức). 21 luan an Về hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ phải bao gồm những nội dung tối thiểu như: Số hợp đồng, thời điểm lập hợp đồng, tên tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ, các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên, quy định về các loại phí, lịch sử giao dịch thẻ, các hạn mức, phạm vi sử dụng thẻ, các trường hợp từ chối thanh toán thẻ, việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, bảo mật trong sử dụng thẻ và trường hợp mất thẻ hoặc lộ thông tin thẻ xử lý tra soát, khiếu nại, tranh chấp trong quá trình sử dụng thẻ,…Nội dung này được quy định tại Điều 13 Thông tư 19/2016/TT-NHNN. Về hạn mức thẻ, tổ chức phát hành thẻ thỏa thuận với chủ thẻ về hạn mức thanh toán, hạn mức chuyển khoản, hạn mức rút tiền mặt và các hạn mức khác trong việc sử dụng thẻ đối với chủ thẻ phù hợp với quy định của pháp luật và quy định về hạn mức thẻ được bổ sung và cụ thể hơn tại khoản 5 Điều 1 Thông tư 26/2017/TT-NHNN quy định: Đối với hạn mức rút ngoại tệ tiền mặt tại nước ngoài, một thẻ được rút số ngoại tệ tiền mặt tối đa tương đương 30 (ba mươi) triệu đồng trong một ngày.
Tuy nhiên, những quy định cụ thể về cơ sở để cấp hạn mức thẻ tín dụng chưa được quy định, do đó, làm tăng nguy cơ và tiềm ẩn nhiều rủi ro phát sinh nợ xấu, đặc biệt là ở các tổ chức tín dụng yếu kém, chưa xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Ngoài ra, chưa có quy định chặt chẽ về việc rút tiền mặt bằng máy POS. Theo quy định của ngân hàng nhà nước, máy POS được định nghĩa là một phương tiện thanh toán cho một giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của đơn vị chấp nhận thẻ. Do đó giao dịch tại máy POS phải là giao dịch thanh toán, trừ một số máy POS tại các đơn vị chấp nhận thẻ được phép thực hiện giao dịch rút tiền mặt theo hợp đồng thỏa thuận với tổ chức thanh toán thẻ.
Việc thực hiện các giao dịch rút tiền mặt tại POS (không được phép) gây ra khả năng rất lớn về gian lận trong việc nộp thuế đối với đơn vị chấp nhận thẻ và phí đối với chủ thẻ. 22 luan an Về cấp tín dụng qua thẻ, Ngân hàng nhà nước quy định việc cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phải đảm bảo được thực hiện theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ và các văn bản thỏa thuận khác về việc cấp tín dụng giữa tổ chức phát hành thẻ với chủ thẻ. Tổ chức phát hành thẻ phải có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, lãi suất áp dụng, quy trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng qua thẻ theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng. Tổ chức phát hành thẻ xem xét và quyết định cấp tín dụng qua thẻ tín dụng cho chủ thẻ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định và chủ thẻ sử dụng tiền vay đúng mục đích và có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ đúng hạn.
Tại khoản 6 Điều 1 Thông tư 26/2017/TT-NHNN có bổ sung quy định cụ thể về hạn mức thẻ tín dụng như sau: Một là, trường hợp phát hành thẻ tín dụng có tài sản bảo đảm: hạn mức tín dụng cấp cho chủ thẻ do tổ chức phát hành thẻ xác định theo quy định nội bộ của tổ chức phát hành thẻ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng và tối đa là 01 (một) tỷ đồng Việt Nam; Hai là, trường hợp phát hành thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm: hạn mức tín dụng cấp cho chủ thẻ tối đa là 500 (năm trăm) triệu đồng Việt Nam. Hiện nay, các văn bản pháp luật liên quan đến thẻ tín dụng chỉ quy định một số nội dung cơ bản như: thủ tục phát hành, cấp hạn mức, xử lý tra soát, các hành vi bị cấm. Riêng những nội dung chuyên biệt như cơ sở đánh giá để cấp hạn mức, cấp tín dụng cho chủ thẻ và đảm bảo an toàn phòng ngừa rủi ro cho các tổ chức tín dụng vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể [20]. Do đó các tổ chức tín dụng trong nước đang thực hiện hoạt động cấp thẻ tín dụng dựa trên tiêu chí đánh giá riêng của từng tổ chức tín dụng.
Điều này dẫn đến nguy cơ 23 luan an tiềm ẩn nhiều rủi ro phát sinh nợ xấu thẻ tín dụng, đặc biệt tại các tổ chức tín dụng yếu kém.