Chương 1: Những van dé lý luận về tiền gửi của cá nhân, pháp luật về tiền gửi của cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng pháp luật về tiền gửi của cá nhân tại Ngân hàng thương mại và thực tiễn thi hành pháp luật về tiền gửi của cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE TIEN GUI CUA CÁ NHÂN, PHÁP LUẬT VE TIEN GUT CUA CÁ NHÂN TẠI NGÂN HANG THƯƠNG MẠI 1. Tiền gửi của cá nhân, hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân 1.
Tiền gửi của cá nhân a) Tiên gửi Trong nhiều hình thức huy động vốn của NHTM, có thể nói hình thức huy động vốn mang tính chủ đạo, hình thành nên đặc trưng của NHTM là nhận tiền gửi. Nhờ có hoạt động này mà đã hình thành nên nguồn vốn chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Đây là nguồn vốn mang tính chủ đạo, quan trọng nhất bên cạnh vốn chủ sở hữu của NHTM. Tiền gửi chính là một trong những yếu tố làm nên đặc trưng của NHTM so với các tô chức kinh tế khác, đó là “nơi chứa tiền” theo cách hiểu don giản nhất khi nhắc đến các ngân hàng.
Ở Việt Nam, định nghĩa tiền gửi sớm được đưa vào quy định của pháp luật về ngân hàng. Cụ thể, Luật các Tổ chức tín dụng 1997 tại khoản 9 Điều 20 quy định: “Tiên gửi là số tiễn của khách hàng gửi tại tổ chức tin dụng dưới hình thức tiễn gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiễn gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiên gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiễn ”. Luật các TCTD năm 2004, sửa đồi bổ sung Luật các TCTD 1997 tại điều 20 khoản 9 đưa ra định nghĩa về tiền gửi: “Tién gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tô chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiễn gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiễn gửi tiết kiệm và các hình thức khác.
Tién gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiễn”. Về cơ bản, định nghĩa tiền gửi được quy định ở hai văn bản quy phạm pháp luật nói trên không có sự khác nhau về bản chất, chỉ sửa đôi về mặt câu chữ. Ngoài định nghĩa tại Luật các TCTD nói trên, tại Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng đưa ra quy định về tiền gửi như sau: “Tiên gửi của khách hàng bao gồm tiền Dong Việt Nam và các loại ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiễn gửi có ky hạn (kể cả tiền gửi tiết kiệm) và các hình thức tiền gửi khác ”. Như vậy, cả hai định nghĩa trên đây đều chưa rõ ràng, không nói lên được bản chất thé nao là tiền gửi mà chỉ định nghĩa theo phương pháp liệt kê.
Thậm chí, Luật các TCTD năm 2010 và Luật sửa đôi, bố sung một số điều của Luật các TCTD năm 2017 đã không đưa ra định nghĩa tiền gửi như các văn bản luật trước đó. Bên cạnh đó, tác giả cho răng tiền gửi “phải được hoàn trả cho người gửi tiền” là chưa thực sự chính xác vì tùy vào mục đích của người gửi tiền mà tiền gửi có thê được hoàn trả lại cho người gửi tiền hoặc không. Mục dich của việc gửi tiền có thé là mở tài khoản dé sử dụng các dịch vụ, lợi ích như dịch vụ thanh toán, gửi rút tiền qua thẻ mà ngân hàng cung cấp,., hai là khách hàng gửi tiền để hưởng lợi ích kinh tế từ lãi suất của VIỆC gui tiền. Như vậy, tiền gỬI có thê được hoàn trả lại cho người gửi tiền hoặc thanh toán cho người thứ ba theo yêu cầu của người gửi tiên tại các tổ chức nhận tiền gửi.
Tựu chung lại, có thể hiểu về tiền gửi trong hoạt động ngân hàng một cách khái quát nhất như sau: Tiền gửi là số tiền khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền hoặc thanh toán cho người thứ ba theo yêu cầu của họ. b) Tiên gửi của cá nhân Trên thực tế, các Ngân hàng thương mại có thê nhận tiền gửi từ rất nhiều nguồn khác nhau như các doanh nghiệp, các tô chức xã hội, đơn vị hành chính sự nghiệp, các tô chức tín dụng khác,. và không thể không kể tới là từ các tầng lớp dân cư với tư cách cá nhân. Như vậy, “tiền gửi của cá nhân” là tiền gửi mà chủ thê gửi tiền vào ngân hàng là cá nhân, hay nếu đi từ định nghĩa tiền gửi thì: Tiền gửi cá nhân là số tiền mà khách hàng là cá nhân gửi tại các tô chức tín dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được hoàn trả cho khách hàng hoặc thanh toán cho người thứ ba theo yêu cầu của họ.
Phân loại tiền gửi của cá nhân Khi tham gia quan hệ gửi tiền, người gửi tiền luôn hướng tới một mục đích nhất định. Nhằm đáp ứng những nhu cầu, mục đích đa dạng của khách hàng, các NHTM đưa ra nhiều loại tiền gửi khác nhau để người gửi tiền lựa chọn hình thức gửi thích hợp nhất tùy thuộc vào mục đích, tính chất và khả năng nguồn von của ho. Dựa theo từng tiêu chí cụ thể người ta có thé phan chia tiền gửi cá nhân nói riêng và tiền gửi nói chung thành nhiều loại tiền gửi khác nhau, trong đó cách phân loại phô biến nhất là theo kỳ hạn và theo mục đích gửi tiền. Phân loại theo kỳ hạn gửi tiền Theo kỳ hạn gửi tiền, tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn: a) Tiên gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là khoản tiền gửi với thời gian không xác định.
Thông thường, tiền gửi loại này dé thực hiện các khoản chi trả cho hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc vì mục đích tiêu dùng. Tiền gửi không ky hạn hau hết là khoản tiền đang chờ thanh toán, không phải là tiền mà khách hàng để dành nên khách hàng có thê rút ra hoặc sử dụng dé thanh toán bat kỳ lúc nào theo yêu cầu. Khách hàng gửi loại tiền này sẽ không được trả lãi hoặc trả lãi với mức lãi suất rất thấp. Đối với tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng được sử dụng các công cụ thanh toán dé chi trả như séc, ủy nhiệm chi và các lệnh chi khác.
Ngoài ra, khách hàng có thé gửi tiền vào NHTM với thời gian không xác định với mục đích bảo toàn tài sản, không mang tính chất phục vụ thanh toán, khi cần có thé rút ra dé sử dụng. b) Tiên gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào NHTM trên cơ sở có sự thỏa thuận với NHTM về kỳ hạn gửi tiền (hay thời gian rút tiền). Về nguyên tắc, người gui tiền chỉ được rút tiền khi đến hạn thỏa thuận. Tuy nhiên, trên thực tế dé thu hút khách hàng gửi loại tiền gửi này, các NHTM có thể cho phép khách hàng được rút tiền trước thời hạn với mức lãi suất được hưởng thấp hơn so với lãi suất áp dụng đối với kỳ hạn đã thỏa thuận.
Đối với mỗi loại kỳ hạn, NHTM áp dụng một mức lãi suất tương ứng trên nguyên tắc kỳ hạn càng dài, lãi suất càng cao. Các loại kỳ hạn cụ thé do tổ chức nhận tiền gửi quy định và thường được chia ra ba loại: Ngan hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến dưới 60 tháng), dài hạn (từ 60 tháng trở lên). Việc phân loại tiền gửi của cá nhân theo kỳ hạn từ ngắn hạn, trung hạn đến dài hạn và không thời hạn có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân gửi tiền cũng như ngân hàng nhận tiền gửi. Với cá nhân gửi tiền, việc phân loại kỳ hạn tiền gửi giúp đáp ứng nhu cầu của từng khách hàng nhất định bởi thời gian nhàn rỗi của khoản tiền cũng như nhu cầu về thời gian gửi tại ngân hàng của mỗi khách hàng là khác nhau, thậm chí có sự thay đổi trong quá trình gửi tiền.
Tiền gửi không kỳ hạn có thể rút bất cứ lúc nào, tạo cho người gửi tiền sử dụng số tiền gửi một cách linh hoạt hơn nhưng lại không được hưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp. Do đó khi tham gia quan hệ tiền gửi đưới hình thức này, khách hàng thường sử dụng đồng thời với những dịch vụ mà tô chức nhận tiền gửi cung cấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền linh hoạt của mình. Tiền gửi có kỳ hạn ràng buộc khách hàng phải tuân thủ theo kỳ hạn gửi tiền nhưng lại có mức lãi 10 suất cao hơn. Nếu vì một lý do nào đó mà người gửi tiền theo kỳ hạn phải rút tiền trước hạn thì các ngân hàng thường yêu cầu khách hàng báo trước một thời hạn nhất định và khách hàng sẽ chỉ được hưởng lãi suất rất thấp như đối với tiền gửi không kỳ hạn.
Đối với ngân hàng, việc phân chia thành nhiều loại tiền gửi với kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn phù hợp với nhóm khách hàng riêng giúp cho các ngân hàng thu hút được nhiều khách hàng tới gửi tiền và đồng thời tạo điều kiện cho NHTM sử dụng nguồn vốn huy động bằng nhận tiền gửi có hiệu quả, lập kế hoạch kinh doanh phù hợp. Tiền gửi có kỳ hạn cảng dài thì ngân hàng càng có lợi thế sử dụng tiền gửi này dé cho vay trung đài hạn, ôn định hơn và thu lại lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên, đối với tiền gửi không kỳ hạn, do tính bất 6n định và không thê dự đoán trước việc rút tiền của khách hàng nên ngân hàng không thé sử dụng toàn bộ số vốn này dé cho vay trung và dài hạn mà chỉ sử dụng theo một tỷ lệ nhất định do Ngân hàng Nhà nước quy định. Mặc dù pháp luật hiện hành có nhiều quy định đề cập đến các loại tiền gửi, tuy nhiên hiện nay chưa có văn bản nào quy định thống nhất, tập trung về khái niệm cũng như quy chế pháp lý về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.