Nghiên Cứu Địa Chất Đệ Tứ và Địa Mạo Đông Nam Bộ

Chuyên khảo phân tích Đặc điểm địa tầng đệ tứ và đặc điểm địa mạo miền đông nam bộ, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Mỏ - Địa chất

Chuyên ngành

Địa chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

1996

150
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Địa Chất Đệ Tứ Đông Nam Bộ Khái Niệm Ý Nghĩa

Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, bao gồm các tỉnh thành như Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu. Với 90% diện tích được bao phủ bởi trầm tích bở rời Đệ Tứ, việc nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo nơi đây trở nên vô cùng quan trọng. Nghiên cứu này giúp làm sáng tỏ bản chất tự nhiên của khu vực, đáp ứng nhu cầu khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Theo Hà Quang Hải (1996), việc nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác điều tra cơ bản.

1.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Địa Chất và Địa Mạo Đông Nam Bộ

Mục tiêu chính của nghiên cứu là làm sáng tỏ các đặc điểm về địa tầng, nguồn gốc và thành phần của trầm tích Đệ Tứ ở Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, nghiên cứu tập trung vào xác định các đặc điểm địa mạo cơ bản để phục vụ cho công tác phân vùng, quy hoạch lãnh thổ. Nghiên cứu cũng xây dựng thang địa tầng Đệ Tứ phù hợp, phục vụ công tác lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản.

1.2. Tầm Quan Trọng của Nghiên Cứu Địa Chất Công Trình Đông Nam Bộ

Nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học cho các hoạt động xây dựng, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nó giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ổn định công trình, đánh giá tiềm năng khoáng sản và dự báo các rủi ro thiên tai. Ví dụ, việc xác định các quá trình địa mạo hiện tại giúp dự báo nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển.

II. Thách Thức Nghiên Cứu Địa Chất Đệ Tứ Địa Mạo Đông Nam Bộ

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về địa chất Đệ Tứđịa mạo ở Đông Nam Bộ, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Một trong số đó là sự phức tạp trong cấu trúc chuyển tiếp của trầm tích Đệ Tứ, với sự thay đổi nhanh chóng về tướng đá và nguồn gốc. Việc phân tầng và xác định niên đại chính xác cho các lớp trầm tích cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với các lớp cổ hơn. Theo Hà Quang Hải, đặc điểm phân bố và biến tướng của trầm tích theo không gian và thời gian chưa được làm sáng tỏ.

2.1. Khó Khăn Trong Phân Tầng Địa Chất Đệ Tứ

Việc phân tầng Đệ Tứ gặp khó khăn do thiếu các mặt chuẩn, quan hệ địa tầng phức tạp và khối lượng mẫu vật chưa được xác định chính xác. Sự tương đồng giữa các tầng bazan Pliocen-Pleistocen và tầng Bà Miêu cũng chưa được làm rõ. Do đó, việc xây dựng một thang địa tầng thống nhất và chính xác là một thách thức lớn.

2.2. Biến Động Môi Trường và Ảnh Hưởng Đến Địa Mạo

Đông Nam Bộ là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự thay đổi mực nước biển. Điều này gây ra những biến động lớn về địa mạo, đặc biệt là ở khu vực ven biển. Nghiên cứu cần phải đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các quá trình địa mạo và dự báo những thay đổi trong tương lai.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Địa Chất Đệ Tứ Miền Đông Nam Bộ Hiện Đại

Để giải quyết những thách thức trong nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo ở Đông Nam Bộ, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại và toàn diện. Các phương pháp này bao gồm phân tích tổng hợp, khảo sát thực địa, nghiên cứu sinh-địa tầng, phân tích trầm tích-tướng, địa vật lý, xử lý cặp dữ liệu PNB, phân tích ảnh viễn thám và sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Theo Hà Quang Hải, việc kết hợp các phương pháp này giúp phân chia tầng một cách chính xác và làm sáng tỏ đặc điểm địa mạo khu vực.

3.1. Ứng Dụng GIS Trong Nghiên Cứu Địa Chất Môi Trường

Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, phân tích và hiển thị dữ liệu địa chấtđịa mạo. GIS cho phép xây dựng các bản đồ chuyên đề, chồng ghép các lớp thông tin và thực hiện các phép tính toán không gian. Điều này giúp đánh giá tiềm năng tài nguyên, dự báo rủi ro thiên tai và quản lý môi trường hiệu quả.

3.2. Phân Tích Sinh Địa Tầng Trong Nghiên Cứu Cổ Địa Lý

Phân tích sinh địa tầng, đặc biệt là phân tích bào phấn, hoa và các loại vi sinh vật khác, giúp xác định môi trường trầm tích và điều kiện cổ địa lý. Các nhóm sinh vật khác nhau có mặt trong các mẫu trầm tích phản ánh sự thay đổi về môi trường nước, độ mặn và mức độ thông thoáng. Kết quả phân tích này giúp xác định điều kiện thành tạo của trầm tích và so sánh, phân chia các tầng.

IV. Đặc Điểm Địa Tầng Đệ Tứ Vùng Đông Nam Bộ Phân Chia Tiến Hóa

Đặc điểm địa tầng Đệ Tứ ở Đông Nam Bộ rất đa dạng và phức tạp, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của khu vực. Các nghiên cứu đã phân chia địa tầng Đệ Tứ thành nhiều tầng và hệ tầng khác nhau, dựa trên đặc điểm thạch học, cổ sinh vật và niên đại. Theo Hà Quang Hải, việc xây dựng một thang địa tầng chi tiết và chính xác là cơ sở quan trọng cho công tác thăm dò khoáng sản và quy hoạch phát triển.

4.1. Phân Chia Các Tầng Trầm Tích Đệ Tứ Quan Trọng

Các tầng trầm tích Đệ Tứ quan trọng ở Đông Nam Bộ bao gồm tầng Bà Miêu (Pliocen-Pleistocen sớm), tầng Củ Chi (Pleistocen giữa-muộn), tầng Thủ Đức (Pleistocen-Holocen) và các tầng Holocen. Mỗi tầng có đặc điểm thạch học và cổ sinh vật riêng, phản ánh điều kiện thành tạo và môi trường cổ địa lý khác nhau.

4.2. Vai Trò của Hoạt Động Bazan Trong Lịch Sử Địa Chất

Hoạt động núi lửa bazan đóng vai trò quan trọng trong lịch sử địa chất của Đông Nam Bộ. Các lớp bazan phân bố rộng khắp khu vực, với nhiều đợt phun trào khác nhau. Việc nghiên cứu địa chất và niên đại của bazan giúp xác định tuổi của các tầng trầm tích và tái tạo lịch sử phát triển của khu vực.

V. Địa Mạo Đông Nam Bộ Quá Trình Hình Thành Phân Vùng Chi Tiết

Địa mạo Đông Nam Bộ là kết quả của sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm kiến tạo, quá trình địa mạo nội sinh và ngoại sinh, và hoạt động của con người. Khu vực này có sự phân hóa địa mạo rõ rệt, với sự tồn tại của nhiều dạng địa hình khác nhau, từ cao nguyên, đồng bằng đến vùng ven biển. Theo Hà Quang Hải, việc phân vùng địa mạo chi tiết là cơ sở quan trọng cho công tác quy hoạch sử dụng đất và phòng chống thiên tai.

5.1. Các Dạng Địa Hình Chính Vùng Đông Nam Bộ

Các dạng địa hình chính ở Đông Nam Bộ bao gồm cao nguyên (Bà Rá, Xuân Lộc), đồng bằng (Chơn Thành, Củ Chi), và vùng ven biển. Mỗi dạng địa hình có đặc điểm riêng về độ cao, độ dốc, và thành phần vật chất, phản ánh quá trình địa mạo hình thành.

5.2. Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đến Địa Mạo Bờ Biển

Biến đổi khí hậu, đặc biệt là sự dâng cao mực nước biển, gây ra những thay đổi lớn ở vùng ven biển Đông Nam Bộ. Các quá trình như xói lở, bồi tụ và xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân địa phương. Cần có những nghiên cứu chi tiết để đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và đưa ra các giải pháp ứng phó phù hợp.

VI. Ứng Dụng Triển Vọng Nghiên Cứu Địa Chất Đệ Tứ Địa Mạo

Nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo ở Đông Nam Bộ có nhiều ứng dụng thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để tìm kiếm và khai thác khoáng sản, quy hoạch phát triển đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai. Theo Hà Quang Hải, việc tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng các kết quả nghiên cứu là cần thiết để phát triển bền vững khu vực.

6.1. Ứng Dụng Trong Tìm Kiếm Khoáng Sản Đệ Tứ

Các trầm tích Đệ Tứ ở Đông Nam Bộ chứa nhiều loại khoáng sản có giá trị kinh tế, như cát, sỏi, đất sét và titan. Nghiên cứu địa chấtđịa mạo giúp xác định vị trí và trữ lượng của các mỏ khoáng sản, phục vụ cho công tác khai thác và chế biến.

6.2. Triển Vọng Nghiên Cứu Trong Bối Cảnh Biến Đổi Khí Hậu

Nghiên cứu địa chất Đệ Tứđịa mạo cần tập trung vào đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các quá trình địa mạo và tài nguyên thiên nhiên. Cần có những nghiên cứu chi tiết về sự thay đổi mực nước biển, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn để đưa ra các giải pháp ứng phó và thích ứng phù hợp.

23/05/2025
Đặc điểm địa tầng đệ tứ và đặc điểm địa mạo miền đông nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu, kết luận và danh sách tài liệu tham khảo, tất cả gồm 98 trang đánh máy với 7 biểu bảng, 36 bản đô, sơ đỏ, 20 ảnh minh họa và 136 tài liệu tham khảo. Một số kết quả nghiên cứu của luận án đã được trình bày trong các báo cáo để tài mà tác giả trực tiếp tham gia, trong các bài báo, thông báo khoa học đã được công bố từ năm 1982 đến năm 1995. Luận án được hoàn thành tại khoa Địa chất trường Đại học M6-Dia chat Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS-TS Đặng Văn Bát, PGS-PTS Mai Văn Lạc. Trong quá trình hoàn thành luận án tác giả luôn đựợc sự quan tâm giúp đỡ của Bộ môn Địa chất, trường Đại học Mö-Địa chất, lãnh đạo Liên đoàn địa chất 6 trước hết là KS Nguyễn Xuân Bao Liên đoàn trưởng và phòng Kĩ thuật Liên đoàn.

Tác giả đã nhận được nhiễu ý kiến trao đối bổ ích của PGS.TS Nguyễn Địch Dỹ, GS.TS Lê Đức An, PGS.TS Nguyễn Quang Mỹ, GS.TS Lê Như Lai, TS Trịnh Dánh, PGS.PTS Phạm Thế Hiện, PGS.PTS Vũ Chí Hiếu, PTS Phạm Huy Long, PTS Nguyễn Đức Tiến, PTS Nguyễn Tường Tri, PTS Nguyễn Xuân Đạo, PTS Vũ Đình Chỉnh. Nhân dịp này tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đối với các cơ quan và các nhà khoa học nói trên. CHUONG I LICH SU NGHIEN CUU VA CAC PHUONG PHAP NGHIEN CUU I. Lịch sử nghiên cứu địa chất Đệ tứ-Địa mạo.

Có thể chia lịch sử nghiên cứu địa chất Đệ tứ-địa mạo miễn Đông Nam Bộ thành hai giai đoạn: 1.1-Giai đoạn thứ nhất: trước năm 1975. Giai đoạn này công tác địa chất ở Việt Nam nói riêng, Đông Dương nói chung do các nhà địa chất Pháp tiến hành. Trong số các công trình đi sâu về Đệ tứ và địa mạo phải kể tới công trình của E. Trong công trình này E.

Saurin đưa ra khái niệm về "phù sa cổ" và "phù sa trẻ" để phân chia các thành tạo bở rời Kainozoi ở phần Nam Đông Dương và ý nghĩa khoa học của nó được thừa nhận ở chỗ ông đã xác nhận được quan hệ giữa phù sa cổ và phù sa trễ là ranh giới giữa Pleistocen và Holocen. Saurin thì phù sa cổ có tuổi khác nhau và tạo nên hai mức địa hình: 50-70m và 10-25m. Trong phù sa cổ có nhiều laterit và thường gặp tectt ở mức địa hình 50-70m. Ông còn cho rằng phù sa cổ phan lớn thành tạo sau phun trào bazan.

Saurin nêu một số nhận định về sự dao động mực nước biển trong thế Pleistocen khi nghiên cứu các lỗ khoan vùng Sài Gòn trong bài "Móng của Sài Gòn và thành hệ châu thổ sông Cửu Long". Các nhận xét ngắn gọn về chế độ kiến tạo của ông chứa đựng một nội dung khá quan trọng: châu thổ sông Cửu Long được cấu thành trên một bổn Mesozøi bị sụt lún vào cuối Đệ Tam. Bồn này chịu tác động của những dao động mực nước biển ở kỷ Đệ tứ. Những dao động của mực nước biển mà chủ yếu là hiện tượng biển tiến đóng vai trò chính yếu trong sự bôi đắp.

Saurin công bố các hoạt động tân kiến tạo Đông Dương trong đó có đề cập các thêm biển 4m và 10-25m ở Vũng Tàu [132]. Năm 1972 trong công trình nghiên cứu về địa chất Đệ tứ Cambodia [1 16] I. Carbonnel đã đề cập các bậc thềm của sông Mekong cao 100m (bi bazan phủ), 40m, 20m. Thêm cao 100m được so sánh với bể mặt laterit bị bazan phủ ở Tuc Trưng Đồng Nai và bậc thêm 40m ở Nha Bích Sông Bé.

Ông giải thích sự chênh cao của mức thêm này là do vận động tân kiến tạo. Tầng cuội kết cấu tạo thêm 100m được xác định tuổi cổ hơn 650.000 năm trên cơ sở đối sánh bazan ở Cambodia với bazan chứa zircon ở vùng Xuân Lộc Đồng Nai. Vẻ kiến tạo: J. Carbonnel ghi nhận đứt gẫy sông Vàm Cô Đông (hướng tây bắc-đông nam) là ranh giới phan chia delta Mekong va delta Déng Nai.

Trong giai đoạn này, có một số công trình của các nhà địa chất Việt Nam đã đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Có thể kể đến một số công trình như các nghiên cứu về trầm tích học ở lưu vực sông Đông Nai của Trân Kim Thạch [82], về kiến tạo của Tran Kim Thach-Dinh Thi Kim Phụng [83], liên quan đến việc đo vẽ bản đồ địa chất miễn Đông Nam Bộ có công trình "Bản đỗ địa chất tỉ lệ 1:25.000 các tờ Phú Cường, Biên Hòa, Thủ Đức, Sài Gòn và Nhà Bè" của H. Fontaine và Hoàng Thị Thân [120]. Trong bản thuyết minh cho tờ bản đồ này ở chương địa chất ứng dụng các tác giả nói trên mô tá ba phần lớn: phù sa, đá móng và cấu trúc.

Về phù sa, cũng như E. Saurin, các tác giả chia làm hai loại: phù sa cổ và phù sa trổ, phù sa trẻ nằm trên phù sa cổ, gồm vật liệu hạt mịn sét và bùn; phù sa cổ chia làm nhiều lớp, phân trên bao gồm các lớp từ trên xuống như sau: - Lớp đất phủ. - Vỏ cứng laterit Biên Hòa. - Lớp lót đưới laterit và ranh giới laterit không rõ ràng - Những lớp khác nữa sâu hơn không quan sát được.

Về cấu trúc các tác giả ghi nhận rằng chiều dày của phù sa không lớn, phức hệ trâm tích phun trào Mesozoi phân bố với bẻ mặt không bằng phẳng, thay đổi nhiều. Trên bản đồ thể hiện một đường đứt gãy theo phương 22°, một đứt gãy khác có hướng tây bắc. Nhìn chung đây là bản đỏ thể hiện các quan hệ địa tầng một cách sơ lược. Cũng có thể nhận xét rằng: đây là một bản đỏ địa chất vẻ nội dung cũng như phương pháp trình bày mang tính kế thừa khá rõ các nghiên cứu của E.2-Giai đoạn sau 1975.

Ngay sau ngày Miễn Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, công tác đo vẽ địa chất được triển khai nhanh chóng. Trước hết công trình hiệu đính bản đồ địa chất Miễn Nam tỉ lệ 1:500.000 (1976-1980) do Nguyễn Xuân Bao chủ biên đã được tiến hành. Trong công trình này những vấn để về địa chất Đệ tứ, địa mao- tân kiến tạo đã được Lê Đức An tổng hợp và đạt được các thành tựu mới {[1,2. Các thành tựu đó được tóm tắt như sau: - "Phù sa cổ" được chia làm hai phân vị địa tầng: hệ tầng Bà Miêu tuổi Pliocen-Pleistocen sớm (N;-Q¡bm) và hệ tâng Củ Chỉ tuổi Pleistocen giữa-muộn (Qumcc).

Hệ tầng Củ Chỉ có ba phần kể từ trên xuống là: "đất xám", laterit, cuội Sạn. - "Phù sa trẻ" cũng được chia làm hai phân vị: các trầm tích tuổi Holocen sớm giữa (Qy!2) và các trầm tích Holocen giữa-muộn (Qrv23). - Các phun trào bazan được phân chia thành hai phân vị theo đặc điểm thạch học-vỏ phong hóa và địa mạo: bazan cổ tuổi Pliocen-Pleistocen sém (N2-Q;) va bazan trẻ tuổi Pleistocen giữa-Holocen (Quy). - Về địa mạo ĐNB được phân chia chỉ tiết thành 6 vùng địa mạo khác nhau: 1-cao nguyên Bà Rá, 2-cao nguyên Xuân Lộc, 3-Đông bằng xâm thực-tích tụ Chơn Thành, 4-đồng bằng tích tụ-xâm thực Củ Chi, 5-cao nguyên Đắc Nông, 6-déng bằng delta Duyên Hải.

Về kiến trúc hình thái: đồng bằng aluvi cổ được chia thành hai dải, đải đông bắc là đồng bằng tích tụ nhiều nguồn gốc tuổi Pleistocen gồm 3 bậc địa hình: 40- 50m, 70-80m và 90-100m. Dải thứ hai ở phía tây nam cao 6-7m đến 15-20m cấu thành chủ yếu bởi aluvi, dải này được xem như thêm bậc I kiểu tích tụ-xâm thực của sông Mekong. Các phân vị địa tầng lập nên chưa có mặt cắt chuẩn, quan hệ địa tâng, khối lượng chưa được xác định chính xác. Chưa giải thích về sự tương đồng của địa tầng bazan Pliocen-Pleistocen hạ và hệ tầng Bà Miêu.

Tuy vậy các thành tựu về địa tầng Đệ tứ và địa mạo đã đạt được ý nghĩa về nguyên tắc và nội dung cơ bản, là cơ sở chắc chắn cho các nghiên cứu tiếp theo. Từ năm 1982 công tác lập bản đồ địa chất khoáng sản tỉ lệ 1:200.000 đã phân chia chỉ tiết hơn địa tầng Đệ tứ và đặc điểm địa mạo tân kiến tạo miễn Đông Nam Bộ. Hà Quang Hải và đồng nghiệp [43,44,45] đã xây dựng một thang địa tầng Dé tứ miễn ĐNB trong đó có một số phân vị hệ tầng mới thiết lập như: - Bazan Núi Tràn thuộc phân thấp của Pleistocen dưới (Q¡'). - Tang Trang Bom thuộc phần trên của Pleistocen đưới (Q2).

- Tầng Thủ Đức thuộc Pleistocen giữa-trên (Qwm) - Bazan Phước Tân thuộc phần giữa của Pleistocen trên (Q2). Hệ tảng Củ Chỉ cũng được hiệu chỉnh lại và thuộc Pleistocen trên phần trên (Qu?) với nguồn gốc sông (a) và sông biển (am). Hệ tầng Bà Miêu thuộc Pliocen muộn (N¿z?). Về địa mạo các tác giả đã phân định các bậc thêm có nguôn gốc và mức cao khác nhau: 5-15m nguồn gốc sông-biển, 25-45m nguồn sốc sông-biển, 55-70m nguồn gốc sông.

Các kết quả trên đã được Nguyễn Đức Thắng [86] và Nguyễn Ngọc Hoa [58] sử dụng cho đo vẽ nhóm tờ Bến Khế-Đông Nai (1979-1990) và đồng bằng Nam Bộ (1981-1991) tỉ lệ 1:200. Ở ĐNB Nguyễn Ngọc Hoa đã bổ sung hệ tang Dat Cuốc mà nó được xem như đồng nghĩa với hệ tầng Trảng Bom tuổi Pleistocen sớm phần trên (Q). Tổng hợp các phân chia địa tầng Đệ tứ được trinh bay 6 bang I. Việc phân chia địa tầng, địa mạo như trên đã là tài liệu điều tra cơ bản khá tin cậy phục vụ cho công tác qui hoạch lãnh thổ, tìm kiếm khoáng sản v v.

Tuy vậy đặc điểm các phân vị địa tầng, sự biến đổi về tướng của chúng theo không gian và thời gian chưa được làm sáng tổ. Cũng trong thời gian này Hoàng Ngọc Kỷ [61,62,63] đã đưa ra một số phân vị địa tầng Đệ tứ trong đó có hệ tầng Thủ Đức tuổi Pleistocen-Holocen nguồn gốc hoàng thổ, phổ biến trên tất cả các bậc địa hình miền Đông Nam Bo. Trong công trình hiệu đính bản đồ địa chất và khoáng sản tỉ lệ 1:200.000 do Nguyễn Xuân Bao chủ biên (1994) các phân vị địa tang Dé tr DNB đã có một số thay đổi như: Bazan Túc Trưng được điều chỉnh thành hệ tầng Túc Trưng tuổi Plio-Pleistocen. Bazan Xuân Lộc và Phước Tân được đổi thành hệ tầng Xuân Lộc tuổi Pleistocen giữa và hệ tầng Phước Tân tuổi Pleistocen muộn phần giữa [11].

Trong công trình bản đồ địa chất Đệ tứ Việt Nam tỉ lệ 1:500.000 (1994) Nguyễn Đức Tâm và Đỗ Tuyết vẫn sử dụng các phân vị địa tầng Đệ tứ đã được h tn INADOEIN, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ