CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MÍT 1. Nguồn gốc và phân bố cây mít Cây Mít (Artocarpus heterophyllus Lam) thuộc chi Artocarpus là một thành viên của họ Dâu tằm (Moraceae) được công bố đầu tiên bởi Lamarck. Các tên đồng danh của loài này bao gồm: A.maxiija Blanco, Soccus arboreus major Rumph., Polyphema jaca Lour.
Mít được cho là có nguồn gốc từ những cánh rừng mưa thường xanh ở Tây Ghats của Ấn Độ nằm trong khoảng độ cao từ 400 đến 1200 m so với mực nước biển. Một số tài liệu khác lại cho rằng Mít có nguồn gốc từ Malaysia. Việc thuần hóa diễn ra trong quá khứ xa xôi và Mít được trồng trọt lan rộng khắp Nam và Đông Nam Á cho đến thời kỳ chế độ thuộc địa khi đó nó tiếp tục được giới thiệu sang những nơi khác. Tổng hợp tài liệu về sự phân bố của cây Mít từ các báo cáo đã công bố cho thấy từ 3 quốc gia bản địa Ấn Độ, Bangladesh, Malaysia cây Mít đã được di thực và trồng phổ biến tại 79 quốc gia khác của châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương.
(Haq; 2006)[1] dẫn chiếu Cơ sở dữ liệu ICRAF, Bowe (Pers. Hiện nay cây Mít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới châu Á như: Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Srilanca, Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines. Ở Úc, Mít được trồng chủ yếu tại các vùng nhiệt đới phía bắc Queensland và xung quanh khu vực Darwin thuộc Lãnh thổ phía Bắc Úc. Cây Mít cũng được tìm thấy trên khắp châu Phi (như ở Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, và đảo quốc Mauritius), cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica, Nam Florida.
Quả Mít và các sản phẩm từ Mít là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các châu lục khi giao thương quốc tế ngày càng mở rộng. Cây Mít có trong đời sống của người dân Việt Nam từ lâu đời gắn liền với lịch sử trên 4000 năm dựng nước và giữ nước, tuy nhiên không có tài liệu luan an 5 nào ghi chép chính xác. Từ thế kỷ 18 quả Mít được nhắc đến gọi là quả Ba la mật trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quý Đôn (Vân Đài Loại Ngữ, NXB Văn hóa thông tin, H 1995. Đặc điểm thực vật học của cây Mít Đặc điểm thân: Mít là loài cây thân gỗ, kích cỡ thân từ trung bình đến rất to thường có đường kính khoảng 80 - 100 - 120 cm nhưng có thể lớn hơn nhiều ở những cây già.
Chiều cao cây Mít dao động từ 10 - 20 m, đôi khi đạt tới 30 m. Mít có một rễ cọc dài và các rễ bao xung quanh dày đặc. Rễ bao quanh hình nón khi cây còn nhỏ và đạt đường kính từ 3,5 - 6,7 m sau năm năm. Thân cây trở nên tròn và hơi bất cân đối khi cây già tuổi.
Vỏ cây dày ít nứt, màu xám sẫm, có vảy màu nâu xám hoặc xám đen. Các cành nhánh ra từ vị trí thấp trên thân cây với góc từ 30 - 90º. Cành non có lông và có vết vòng của lá kèm (Vũ Công Hậu, 2000)[4]. Đặc điểm lá: Lá Mít là lá đơn mọc cách.
Lá mọc xen kẽ trên cành ngang nhưng có xu hướng xoắn ốc trên các nhánh phía trên với kiểu sắp xếp lá 2/5. Có hiện diện các lá kèm lớn hình trứng đính thành mo ôm cành, dài khoảng 4 -8 cm và rộng 1 - 3 cm, rụng sớm để lại sẹo nhìn rõ trên vỏ thân, cành. Phiến lá dày và có các hình dạng như: trái xoan rộng, hình thuôn, trứng ngược hoặc elip. Lá Mít trên các cành trưởng thành có hình trứng ngược nhiều hơn và lá trên các nhánh chồi non thường có hình thuôn dài và hẹp hơn.
Chiều dài lá biến động từ 7 - 25 cm và rộng từ 3 - 12 cm,cuống lá dài 1 - 2,5cm. Phiến lá dai như da, không lông, cứng ráp và màu xanh đậm sáng phía mặt trên và màu xanh nhạt ở mặt bên dưới, lúc đầu lởm chởm nhưng nhẵn ở mặt dưới. Gân lá xếp hình lông chim thường có khoảng 5 - 12 cặp gân. Gân giữa và gân chính có màu trắng xanh đến vàng nhạt.
Gốc lá có hình nêm hoặc tù ở cuối và toàn bộ lá, nhưng ở cây non mọc từ hạt hình dạng lá không theo quy luật mà thường xẻ 3 thùy. Các phiến lá phẳng, nhăn hoặc với các cạnh lá hướng lên. Đỉnh lá tù, tròn hoặc có đầu ngắn. Từ điểm rộng nhất, lá thon dần đến cuống lá.
Cuống lá có màu xanh đậm, dài từ 1 - 5 cm và có rãnh ở mặt đối diện của cuống (Vũ Công Hậu, 2000)[4]. luan an 6 Đặc điểm cụm hoa và hoa Mít: Mít là loài có hoa đực và hoa cái riêng rẽ cùng mọc trên một cây gọi là đơn tính đồng chu, các cụm hoa đực và hoa cái được sinh ra riêng biệt trên các nách lá, trên thân cây hoặc trên các cành già. Trong một số trường hợp, cụm hoa cũng có thể được sinh ra trên các phần thân ngầm trong đất, tạo ra những quả nhô lên khỏi mặt đất. Một số lượng lớn những hoa riêng lẻ được sinh ra trên một trục thuôn dài hình chùy và tập trung sát nhau thành một cụm hoa hình đuôi sóc, còn được gọi là một bông hoặc một đầu (Vũ Công Hậu, 2000)[4].
Có 3 loại chồi mang hoa, một loại không mang quả vì nó chỉ có hoa đực, hai loại có thể cho quả gồm: chỉ có hoa cái, cả hoa cái và hoa đực. Các chồi chỉ có hoa đực thường xuất hiện trên cành hoặc thân sớm hơn, vào đầu mùa hoa. Chúng xuất hiện và có cấu tạo giống như các búp lộc có màu vàng xanh, nhưng sau đó chúng phát triển thành lá hoặc các nhánh bên. Những chồi hoa đực này mập hơn so với các chồi cuối, đường kính khoảng 0,72 cm.
Chúng cũng chứa ít lá hơn và tạo ra nhiều hoa đực (khoảng ba hoa trên mỗi chồi cụm hoa ở mỗi mùa). Hoa đực bắt đầu nhú ra vào tuần thứ tư sau khi chồi hoa xuất hiện, hoa đực nở trước hoa cái từ 3 - 5 ngày. Chồi cuống hoa cái mập, khỏe hơn nhiều so với những chồi cuống hoa đực hoặc cả hoa đực và cái. Chồi chỉ có hoa cái được sinh ra trên bệ cuống trong khi chồi hoa đực vừa có thể sinh ra trên bệ cuống cũng như trên chồi cuối.
Hoa đực có cuống ngắn hoặc không có cuống nếu sinh ra ở chồi cuối. Các chồi cuối có đường kính khoảng 0,4 cm mọc ra từ 7 đến 8 lá và chỉ sinh ra các hoa đực mọc ở cuối chồi. Một hoa đực được hình thành trên một chồi cuối trong mỗi mùa hoa (Vũ Công Hậu, 2000)[4]. Cụm hoa đực bao phủ dày đặc là những bông hoa đực nhỏ mọc thành bông đuôi sóc.
Cụm hoa đực dài, gồm nhiều hoa, có lông tơ mềm, bao hoa hình ống gồm 2 cánh dính nhau ở đỉnh. Cụm hoa đực cùng với chồi và lá nguyên thủy được bao bọc bởi các lá kèm. Khi chồi phát triển lớn hơn, các lá kèm mở ra để lộ chồi, một lá mới và chùy hoa. Khi xuất hiện, hoa đực dài 3- 3,5 cm và rộng 1,5 cm sau đó nó tăng kích thước, có hình chùy thuôn dài và đạt chiều dài 5 - 10 cm và chiều rộng 2 - 3 cm.
Cụm hoa đực không có lá bắc. luan an 7 Mỗi bông hoa được sinh ra trên một cuống với một vòng thịt màu xanh lá cây ở đỉnh. Hoa đực có thể bất dục hoặc hữu dục. Hoa đực bất dục có một bầu nhụy đặc và hoa đực hữu dục có hình ống và hai thùy.
Một bông hoa đực chứa một chỉ nhị dài (1 - 2 mm) và bốn bao phấn. Chúng được bao bọc trong một bao hoa hình ống dai cứng như da màu xanh lá cây thò ra khỏi ống bao hoa trên bề mặt của cụm hoa. Nhị đầu tiên xuất hiện khoảng 4 - 6 ngày sau khi nở và toàn bộ bề mặt của cụm hoa được bao phủ với những bao phấn màu vàng nhưng không bị bong ra. Các gai hoa đực chuyển dần sang màu đen sau khi nở, do sự phát triển của nấm mốc và rụng ra sau khoảng một tuần (Vũ Công Hậu, 2000)[4].
Cụm hoa cái hình bầu dục mọc ngay trên thân cây hoặc các cành già. Cụm hoa cái dài 4 - 15 cm và thường mọc cách xa cụm hoa đực và ở vị trí thấp hơn các cụm hoa đực. Tuy nhiên quan sát thấy khi cây có độ tuổi già thì cụm hoa cái có xu hướng mọc ở vị trí cao hơn trên các cành già. Hình dạng hoa cái có xu hướng thiên về hình trụ hoặc thuôn hơn hoa đực, có xuất hiện lá bắc, đây là đặc điểm dễ nhận biết khác với cụm hoa đực.
Các hoa cái nhỏ, màu hơi xanh lục mọc thành cụm hoa ngắn với nhiều thịt trên một đế hoa lồi, bầu nhụy thượng. Sau khi thụ phấn chúng phát triển thành quả tụ còn gọi là quả phức có thể rất lớn, gồm nhiều quả bế còn gọi là quả thật hợp thành. Hoa cái có hình ống bao gồm các đoạn tự do khi còn non nhưng hợp nhất ở điểm giữa; bao hoa vây quanh một noãn sào bị nén chặt đếvới đầu cuối được chèn chéo bởi một nhụy hình chùy. Các đầu nhụy khá sắc nhọn và trở nên tù khi quả trưởng thành.
Vòi nhụy thò ra sau 4 - 6 ngày sau khi các mo bao cụm hoa mở ra. Các hoa cái xuất hiện lông tơ tại các vòi nhụy trong vòng 4 đến 6 ngày tiếp theo. Khả năng tiếp nhận phấn của vòi nhụy trong khoảng 28 - 36 giờ (Vũ Công Hậu, 2000)[4]. Các cụm hoa cái mọc đơn lẻ hoặc theo cặp trên chồi cuống hoa hoặc mọc ra khỏi thân cây hoặc các cành nhánh lớn.
Cụm hoa cái có cuống mập hơn so với cụm hoa đực và thường có vòng thịt ở gốc. Hoa đực được sinh ra ở đầu chót chồi lá và trên các chồi cuống hoa mọc ra từ các cành cấp 1 và 2. Khi còn non, các hoa được bao bọc trong những lá mo dày, dai và rụng sớm. luan an 8 Đặc điểm quả Mít: Quả Mít là một quả tụ lớn còn gọi là quả phức màu vàng dài 30 - 100 cm và đường kính 25 - 50 cm, hình trụ tròn đến hình quả lê treo trên một cuống bền chắc.
Bề mặt quả có nhiều gai nhỏ hình chóp nhô ra chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả Mít hầu như ăn được.