Chương 1 TỎNG QUAN 1. Lịch sử phát triển Hồ tiêu ở Việt Nam Ở Việt Nam, cây Hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI, nhưng đến thế kỷ XVII mới được đưa vào trồng (Chevalier, 1925; Phan Hữu Trinh và ctv, 1988). Đến cuối thế ky XIX, Hồ tiêu được trồng với diện tích tương đối khá ở Phú Quốc, Hòn Chồng và Hà Tiên (Kiên Giang), chủ yếu do người Hoa gốc ở đảo Hải Nam theo Mạc Cửu di cư vào Hà Tiên. Cũng trong khoảng thời gian này và đầu thế kỷ XX, cây Hồ tiêu theo chân các chủ đồn điền người Pháp phát triển lên Bình Long, Bà Rịa-Vũng Tau, Quang Tri và Quang Nam.
Trước những năm 1975, cả nước chi có khoảng 500 ha Hồ tiêu với san lượng ước chừng 500 tan. Sau năm 1975, nhất là từ 1983 đến năm 1990, do giá hạt tiêu trên thị trường thế giới tăng cao, cây Hồ tiêu được chú ý mở rộng diện tích, chủ yếu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, đạt gần 9. Trong khoảng thời gian 1991-1995 giá Hồ tiêu giảm mạnh, diện tích trồng Hồ tiêu giảm theo, dao động trong khoảng 6. Từ năm 1996, các nước sản xuất tiêu chính như Indonesia, Malaysia, Brazil mat mùa tiêu vì khô han, tiêu dùng nội địa tăng cao ở một số nước sản xuất Hồ tiêu truyền thong như An Độ, Sri Lanka, gia Hồ tiêu xuất khẩu tăng liên tục từ 2.000 USD/tan lên 4.000 USD/tan vào khoảng giữa năm 1997- 1999, có lúc lên đến 6.000 USD/tan, tạo cơ hội thuận lợi cho Việt Nam phát triển sản xuất Hồ tiêu.
Từ năm 1997, diện tích Hồ tiêu cả nước tăng liên tục, từ 9.500 ha (2004), tăng gấp hơn năm lần. Sản xuất Hồ tiêu tập trung và tăng nhanh nhất ở vùng Đông Nam Bộ, năm 1997 là 5.893 ha, đến 2004 đạt 26.900 ha (chiếm 51,3% tổng diện tích Hồ tiêu cả nước), chỉ riêng tỉnh Bình Phước đã đạt diện tích 13. Hồ tiêu mới phát triển ở Tây Nguyên sau năm 1975, song đến năm 2004 diện tích trồng Hồ tiêu ở vùng này đã vượt 17.980 ha, Đăk Lăk vươn lên đứng hàng thứ hai trong số 18 tinh có trồng nhiều Hồ tiêu với hơn 11. Năng suất tiêu hầu như không tăng và có sự sai khác lớn giữa các vùng và tinh có trồng tiêu.
Năng suất bình quân năm 1997 dat 2,08 tan/ha, đến năm 2004 cũng chi đạt 2,22 tan/ha. Sản lượng Hồ tiêu cả nước tăng nhanh chủ yếu do diện tích thu hoạch tăng, từ 13.700 tấn trong năm 1997 tăng lên gan 96.000 tan trong nam 2004. Tuy nhién, kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2005 không tăng, dao động trong khoảng 120-130 triệu USD/năm, chủ yêu do giá Hồ tiêu giảm mạnh và ở mức thấp kê từ năm 2000. Diện tích Hồ tiêu cả nước đến năm 2019 là khoảng 130.000 ha, theo ước tính của Tổng cục Thống kê, xuất khẩu Hồ tiêu 6 tháng nửa đầu năm 2019 đạt 176,8 nghìn tấn, trị giá 452,1 triệu USD, tăng 34,96% về lượng nhưng lại giảm 0,12% về tri giá so với cùng kỳ năm 2018.
Các vùng trồng tiêu chính ở Việt Nam Ở Đông Nam Bộ, chỉ riêng hai tinh Bình Phước va Bà Ria-Ving Tàu, ba tỉnh vùng Tây Nguyên có diện tích Hồ tiêu lớn là Đăk Lăk, Gia Lai và Đăk Nông, tỉnh có điện tích lớn Hồ tiêu ở Bắc Trung Bộ là Quảng Trị và ở Duyên hải Nam Trung Bộ là Bình Thuận. Riêng Bình Phước từ năm 2003 diện tích Hồ tiêu của tỉnh khoảng 14.195 ha, trong đó diện tích thu hoạch 8.350 ha, sản lượng đạt 19. Đến năm 2004 diện tích Hồ tiêu giảm 4,4% (13.571ha), nhưng diện tích thu hoạch tăng 19,6% (10.389 ha) trong năm 2004 do các vườn tiêu mới trồng trong khoảng 1997-2002 đã cho thu hoạch, sản lượng tăng 23,7% (24.933 tan) so với năm 2003. Nguyên nhân giảm diện tích là do giá Hồ tiêu nằm ở mức thấp trong các năm gan đây và ngược lại giá vật tư và công lao động tăng nhiều, ngoài ra sâu bệnh hại cũng là một nguyên nhân góp phần làm giảm diện tích Hồ tiêu của tỉnh, đến năm 2009 còn 10.
Năm 2019 Bình Phước có 17.199 ha diện tích trồng Hồ tiêu, trong đó có 15.039 ha cho sản phẩm, sản lượng 29. Các địa phương tập trung nhiều Hồ tiêu bao gồm huyện Lộc Nình, Bù Đốp, Hớn Quản và huyện Bù Gia Mập (niên giám thống kê 2019). Giống Hồ tiêu Các giống Hồ tiêu trồng có thé có nguồn gốc từ các giống Hồ tiêu mọc hoang, được thuần hoá và tuyển chọn qua rất nhiều đời trong khoảng thời gian dai. Trong số hơn 100 giống Hồ tiêu được biết đến, có một số giống đã và dang dan mat đi trong sản xuất bởi nhiều lý do, chang han bị loại bỏ vì nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhất là bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến trùng, các giống Hồ tiêu bản địa dần dần được thay thế bằng một vài giống Hồ tiêu cao sản trong sản xuất đại trà (Ravindran va ctv.
Viện Nghiên cứu Tai nguyên Di truyền Thực vật Quốc tế đưa ra bảng chỉ dẫn dựa vào các chỉ tiêu hình thái để nhận diện giống Hồ tiêu, bao gồm 29 chỉ tiêu về thân, lá và các đặc tính sinh trưởng, 30 chỉ tiêu về gié và quả (hạt tươi) và sáu chỉ tiêu về hạt (IPGRI, 1995). Ravindran (1991; trích dẫn bởi Ravindran và ctv., 2000) và Ravindran và ctv. (1997) đã tiến hành phân tích hợp phan chính (principal component analysis) dé phân định nhóm giống Hồ tiêu, xác định được tám hợp phần chính bao gồm: 1. Chỉ số kích thước lá, chiều dài lá, chiều rộng lá 2.
Độ dày lá, độ dày biểu bì đưới lá, độ dày biéu bì trên lá 3. Tỉ lệ chiều dai lá/chiều dai gié, chiều dài gié, chiều dai cuống gié 4. Chiều đài và chiều rộng tế bao bảo vệ (guard cell) 5. Kích thước quả và hình dạng quả 6.
Hình dạng lá và phía gốc lá 7. Tần suất khí không và mật độ diệp lục 8. Hình dạng lá ở cành cho quả và hình dang lá ở cành bò (dây lươn) Trong 51 giống được phân tích, kết quả cho thấy có 28 giống nằm chung một nhóm, và điêu đáng lưu ý là Panniyur 1 năm vào một nhóm riêng. Kết quả điều tra trong sản xuất được tiến hành bởi IISR cho thấy chỉ riêng ở Ấn Độ đã có 38 giống Hồ tiêu được trồng phố biến và 63 giống khác được phát hiện (IISR, 1997).
Viện Nghiên cứu Gia vị Ấn Độ (IISR) tiến hành chương trình tuyển chọn và lai tạo giống Hồ tiêu từ năm 1953 với mục đích chọn tạo được các giống Hồ tiêu có khả năng cho năng suất cao và kháng được sâu bệnh. Viện đã đưa vào sản xuất giống Hồ tiêu lai Panniyur-1 cho năng suất cao và chống chịu tốt bệnh chết nhanh và đang khu vực hoá hai giống Panniyur-2 và Panniyur-3. Hiện IISR đang trồng bảo quản và theo dõi tập đoàn 2.300 ký hiệu giống bao gồm cả 940 ký hiệu tiêu hoang đại (IISR, 2005). Ở Indonesia, bên cạnh giống Bangka cho năng suất cao và được trồng phô biến, còn có giống Belangtoeng cho năng suất trung bình, ba giống chống chịu tốt bệnh chết nhanh là BanJarmasin, Duantebei và Merefin, và hai giống chọn lọc cho năng suất cao được phố biến trong sản xuất giữa thập niên 1990 là Natar 1 và Natar 2.
Ở Việt Nam, giống Hồ tiêu được trồng trong sản xuất hiện nay là các giống Hồ tiêu nhập nội, với đặc điểm nhân giống vô tính nên quần thể giống không phong phú như một số nước khác, mỗi vùng trồng tiêu chính thường chỉ có vài ba giống phổ biến. Theo Phan Hữu Trinh và ctv (1988) cây Hồ tiêu được đưa vào canh tác tương đối quy mô ở vùng Hà Tiên nước ta vào đầu thế kỷ thứ 19, sau đó được trồng ở nhiều vùng Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ, vùng Hồ tiêu chủ yếu ở tỉnh Quảng Trị là các vùng có độ cao so với mặt biển dưới 100 m. Các giống Hồ tiêu được trồng trong thời gian này chủ yếu là các giống có nguồn gốc từ Campuchia và một số giống địa phương không rõ nguồn gốc. Năm 1947, giống Lada Belangtoeng có nguồn gốc Indonesia được nhập vào nước ta từ Madagascar, được xem là giống có nhiều triển vọng và có khả năng chống bệnh thối rễ (Phan Hữu Trinh và ctv.
Theo Trần Văn Hoà (2001) các giống Hồ tiêu có triển vọng phát triển ở nước ta gồm giống Sẻ địa phương vùng Đông Nam Bộ, các giống nhập từ Campuchia qua đường Hà Tiên là Sréchéa, Kamchay, Kampot, Kep, giống Lada Belangtoeng từ Indonesia và Panniyur-1 từ An Độ. Các giống Hồ tiêu được trồng phô biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống địa phương hoặc du nhập từ địa phương khác, giống thường mang tên địa phương có trồng nhiều hoặc xuất xứ từ địa phương, do vậy có khi một giống Hồ tiêu được mang nhiều tên khác nhau, nhiều giống/dòng tiêu khác nhau lại mang cùng một tên. Nhìn chung, các giống được trồng phô biến có thể phân thành ba nhóm dựa trên các đặc tính hình thái, chủ yếu là kích cỡ lá: 1) Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu Sẻ, gồm phần lớn các giống Hồ tiêu được trồng phổ biến ở nhiều địa phương, trong đó có các giống: Vĩnh Linh (Quảng Trị), Tiêu Sơn (Gia Lai), Di Linh (Lâm Đồng), Sẻ Dat đỏ (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang), Nam Vang (nhập nội từ Campuchia, gồm ba giống Kamchay, Kep và Kampot). 2) Tiêu lá trung bình gồm chủ yếu các giống Hồ tiêu nhập nội từ Madagascar, Ấn Độ và Indonesia như: Lada Belangtoeng, Karimunda, Panniyur và Kuching.
3) Tiêu lá lớn còn gọi là tiêu Trâu như các giống Sẻ mỡ, Trâu Dat đỏ (Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu). Trong số các giống trên, giống Lada Belangtoeng được trồng phô biến nhất, đặc biệt là ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên (Phan Quốc Sung, 2000). Có thé một số giông Hồ tiêu có tên gọi khác nhau ở một sô địa phương có nguôn gôc từ giông Lada Belangtoeng. Điều kiện sinh thái cây Hồ tiêu i) Khí hậu - Phân bố địa lý Hồ tiêu được trồng nhiều Châu Á-Thái Bình Dương, Hồ tiêu được trồng nhiều ở Ấn Độ, Hai Nam, ở Brazil va Madagascar.
Yêu cầu đặc trưng về mặt khí hậu của cây Hồ tiêu là lượng mưa khá, nhiệt độ không thay đổi nhiều, 4m độ cao, độ dài ngày không chênh lệch nhiều giữa các mùa trong năm. - Lượng mưa Hồ tiêu thích hợp trong điều kiện mưa đều, lượng mưa hàng năm trong khoảng 1.000mm, tuy cây Hồ tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường trong vùng ít mưa nhưng phân bố đều. Phân bố lượng mưa, tình trạng thoát nước va khả năng giữ âm của đất đóng vai trò quan trọng đối với cây Hồ tiêu hơn là tổng lượng mưa.