CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1.1 Khảo sát tình hình thiên tai chung. Việt Nam là một trong những quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai .Bảng dưới đây mô tả mối thương quan giữa các sự kiện thiên tai và tần xuất xuất hiện của chúng ở Việt Nam và rõ ràng là hầu hết các thiên tai đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến nước (Hoặc là nguyên nhân hoặc là do thiếu hụt nguồn tài nguyên này). Cao Trung bình Thấp Lũ lụt Mua da và mưa Động đất Bão Hạn hán Thảm họa cộng nghệ Ngập lụt Sạt lở đất Sương mù ,Sương muối Xói mòn/bồi lắng Cháy Sự xâm nhập của nước | Phá rừng biên Lé ra với lượng mưa khá đồng đều và cao , Việt Nam có đầy đủ nước cho các nhu cầu khác nhau. Tuy nhiên thủy tai lại là van đề nghiêm trong ở Việt Nam va gây ra những thiệt hại thường xuyên và đáng kể về tính mang con người và thiệt hại về kinh tế.
Thiệt hại nghiêm trọng nhất thường gây ra do lũ lụt, đặc biệt là khi kết hợp với các cơn bão.Các cơn bão làm nâng cao mực nước biển lên hàng mét và gây ra hiện tượng nước dâng ở vùng cửa sông,làm ngập lụt khu vực đất nông nghiệp. Với vận tốc gió cao.các cơn bão phá hủy nhà cửa tạo thành sóng phá hủy các đê biển bảo vệ các vùng đát bên trong.Mưa với cường độ lớn kết hợp với bão gây nên lũ quyest,xuất hiện một cách đột ngột ở các khu định cư và thường xuyên gây ngập ở các vùng đất thấp.Dòng chảy xuất hiện do mưa bão, sau đó đồ vào sông đã bị đầy trong mùa mưa, tạo thành lũ và gậy nguy hiểm cho đê sông và đe dọa tàn phá hang triệu gia đình. Trung bình hằng năm Viêt Nam chịu ảnh hưởng của từ 4-6 cơn bão làm hàng trăm người chết. Người ta đã xem xét trước răng, do ảnh hưởng của hiện tượng trái đât nóng lên mà sô lượng các trận áp thâp nhiệt đới và các cơn bão đô bộ vào Việt Nam sẽ tặng cả về sô lượng và cường độ.
Một lý do mà thủy tại là vấn đề nghiêm trọng đó là do hầu hết các khu dân cư đều sinh sống trong các vùng dễ có nguy cơ bị ngập lụt. Đó là do Việt Nam là một quốc gia phát triển bắt nguồn từ nền văn minh lúa nước khai thác các vudng dông băng châu thô ở các vùng đât thâp và các vùng ven biên. Vì vậy cả vùng đông bằng sông Hồng,đồng bằng sông Cửu Long và dai đồng bằng hẹp ven biển đều có nguy cơ ngập lụt trong mùa mưa và khi có lụt bão xảy ra. Hơn thé nữa,các vùng miền núi ở các góc của đất nước đều chịu ảnh hưởng của lũ quét.
Từ đó có thể thấy rằng, hơn 70% dân số của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng của thủy tai. Những thiên tai này lại càng trầm trọng hon do những hoạt động bat hợp lý của con người.Dọc theo bờ biển rừng chắn sóng bị chặt phá và các rạn san hô bị khai thác, sự khai thác của các dân cư ven biển thậm trí còn lớn hơn sự tàn phá của sóng và gió. Ở các vùng đồi núi, phá rừng về cơ bản đã làm tăng sự xói mòn, bồi lắng và tang thời gian tập trung dòng chảy, do vậy mà các đỉnh lủ xuất hiện cao hơn và nhanh hơn so với trước. Do sự tăng dòng chảy trong mùa mưa nên làm giảm đi lượng nước thấm vào trong đất.
Điều này làm giảm dòng chảy mùa kiệt ở hạ lưu,dẫn tới sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nước và sự xâm nhập mặn của nước biển. Thêm vào đó các sông có vùng nông nghiệp hai bờ được sự bào vệ của hệ thống đê, làm nhiệm vụ ngăn lũ,có mực nước lũ cao hơn so với trước đây. Hiện tai trong những tháng mùa mưa, sông Hồng đoạn gần Hà Nội có thể có mức nước từ 5-6 mét so với cao trình đáy,nhưng ngược lai 1000 năm trước đây, mực nước này chỉ cao 2 đến 3 mét so với đáy sông. Hệ thống đê sông và đê biên Việt Nam đã tồn tại hàng thé ky đang suy yêu dần mặc dù hang năm vào mùa lụt bão,có hang tram ngàn người được huy động được cũng cố và sửa chữa hệ thống này.2 Khái niệm về lũ quét Li quét hình thành khi có một khối lượng nước rất lớn được mang đến bởi những cơn mưa đông hay bão nhiệt đới hoặc cũng có thể do bang tuyết tan chảy một cách đột ngột.
Nó cũng có thể được hình thành khi vỡ đ ập hay xả lũ đập một cách vội vàng với khối lượng xả lớn, xả hàng ngàn mét khối/giây.3 Đặc tính lũ quét Vi lũ quét là hiện tượng di chuyển của một khối lượng nước không 16 từ trên cao xuống thấp với tốc độ ngày càng lớn và sức tàn phá ngày càng lớn tùy thuộc vào độ dài của dốc cũng như sự "trơn láng" của quãng đường mà nó đi qua, nó sẽ gây ra những thiệt hại cực kỳ nghiêm trong cho những noi ma nó di qua. Với tôc độ cao cộng thêm khôi lượng nước lớn nó có thê cuôn trôi nhà cửa,tài sản, cây cối. gần như tất cả mọi thứ trên đường đi. Hiện tượng lũ quét thường gặp ở những nơi có độ đốc cao như xuống chân núi, hay trong thung lũng.
Mặc dù lớn và sức tàn phá rất nặng nề nhưng lũ quét thường không tồn tại quá 6 tiếng. Khi đường thoát nước của lũ quét bị chặn do đê hay các công trình lớn dù nó không bít hết dòng chảy nên khối lượng nước lớn với tốc độ cao bị dội ngược thành vòng trước khi chảy tiếp làm cho mực nước nhanh và nguy hiểm hơn nhiều so với ban đầu. Do khối lượng nước dội lại trạm nhau với khối nước đồ về tạo ra các xoáy nước, các xoáy nước này cũng có thê hình thành dưới mặt nước rút mọi thứ xung quanh nó vào gây ra nhiêu khó khăn cho việc cứu hộ. Cùng với lũ quét có thể gây ra nhiều trận lở đất, trượt lở làm cho mức độ thiệt hại ngày càng nghiêm trọng.
Li quét có thé gây ra trên diện rộng, nhưng càng rộng mức độ tàn phá của nó càng thu hẹp và khối lượng nước càng bị phân tỏa chứ không tập trung tại một điểm nhất định. Lũ quét không xảy ra các sông lớn hay khu vực đồng bằng vì ở đây có địa hình bang phẳng không có núi dốc, chỉ gây ra ngập lụt,ngập ung va không cuốn trôi bât cứ gì.4 Thực trạng lũ quét Việt Nam. Các tỉnh miền núi phía bắc xảy ra trên 200 trân lũ quét trong vòng 20 năm qua, Với mức độ gây thiệt hại ngày càng lớn ảnh hưởng nhiều. Một số trận điển hình: Lũ quét xảy ra vào hồi tháng 6/1990 trên suối Nam Lay, thị xã Lai Châu (cũ) làm 82 người chết và mắt tích; Lũ quét xảy ra vào hồi tháng 9/2002 tại Hương Sơn, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh làm 53 người chết và mắt tích, 370 căn nhà bị cuốn trôi; Lũ quét xảy ra vào ngày 05/9/2013 tại xã Bản Khoang, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai làm 11 người chết và mat tích, 16 người bị thương: Lũ quét xảy ra do mưa lũ sau bão số 2 năm 2016 tại Lào Cai đã làm 15 người chết và mắt tích tại các huyện Bát Xát và Sa Pa; sạt lở tại mỏ vàng Mà Sa Phìn, xã Nậm Xây, huyện Văn Bàn đã làm 10 người chết và mất tích.
Năm 2017, lũ quét, sạt lở đất đặc biệt nghiêm trọng trên diện rộng tại các tỉnh miền núi: tại huyện Mường La (tỉnh Sơn La), Mù Căng Chải (tỉnh Yên Bái) vào đầu tháng 8; tại các huyện Tân Lạc, Đà Bắc, TP Hoà Bình (tỉnh Hòa Bình) từ giữa tháng 10; sạt lở đất ở huyện Bắc Trà Mỹ, Nam Trà My (tỉnh Quảng Nam). Li quét, sat lở đất trong năm đã làm 71 người chết và mat tích, 4.109 ngôi nhà bị sập, đồ, cuốn trôi. Hiện nay vẫn còn 13.246 hộ đang sinh sống tại những nơi không đảm bảo an toàn có nguy cơ cao ảnh hưởng lũ quét, sạt lở đất.5 Hậu quả do lũ quét gây ra. Những thiệt hại có thể lượng hóa được Các công trình dân sinh kinh tê bị cuôn trôi,hư hỏng, sập đô nhà cửa, nhà máy, trường học bệnh viện, kho tang cầu cống, công trình thủy lợi, giao thông.
Mùa màng bị phá hoại. Các phương tiện, tài sản của dân ven biên bị chim dam, cuốn trôi mắt tích. Những khu nuôi trồng thủy sản cửa s6n, ven biên bị phá hủy thiệt hại. Xói lở bờ sông bờ biên, đất thé cư xói mòn hoặc bồi lap đất canh tác.
Gia cầm gia súc bị chết trong mùa bão lụt. Những thiệt hại không lượng hóa được Ách tắc giao thông làm tê liệt các hoạt động kinh tế, dân sinh, gây phản ứng dây truyền bat lợi cho cộng đồng. Thiệt hại về tính mạng của người dân. Dé lại hậu quả về môi trường, gây thương tật, phát sinh bệnh tật, dịch bệnh sau lũ bảo.
De doa đời sống an sinh, gây cho người dân tư tưởng hoang mang, tạm bo, không ôn định, không yên tâm tô chức cuộc sông, phát triên sản xuat. Gây ảnh hưởng rat lớn tới đời sống kinh tế, chính trị, cản trở tiến trình phát triên chung cua dat nước va nước ngoài trong việc dau tu von. Thông thường những anh hưởng về mặt xã hội của thiên tai tram trong hơn thiệt hại về kinh tế. Ở Việt Nam có một số hạn chế về mặt an toàn xã hội,các ảnh hưởng về mặt xã hội của thiên tai trở nên sâu rộng hơn ở các quốc gia phát triển.
Các gia đình bị thiệt hại về tài sản nhà cửa thường bị thiệt hại cả về cây lương thực và dẫn đến kết quả là việc làm của kế sinh nhai của họ bị ảnh hưởng và suy giảm. Một số gia đình bị mat nhà cửa nơi họ đang sinh sống. Thiệt hại về mặt xã hội xảy ra khi các hộ gia đình phải di chuyên tạm thời hoặc vĩnh viễn và gia đình bị phá vỡ. Việc chăm sóc sức khỏe cho công đồng cũng bị ảnh hưởng.
Lt lụt ở Việt Nam luôn mang theo các mầm mống bệnh tật, và tiếp sau lũ lụt thường xuyên là thiếu lương thực và nguồn nước sinh hoạt. Sau cùng, những người dân đã bị ảnh hưởng bơi thủy tai đã biết rằng trong năm tiếp theo những điều này sẽ tái diễn. Họ sống trong tình cảnh luôn bị áp lực của các nguy cơ thiên tai de dọa. CHUONG 2: ĐÁNH GIÁ THUC TRẠNG VE LŨ QUÉT 2.