CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC BẢO TRÌ CÔNG TRÌNH ĐÊ SÔNG 1.1 Khái quát chung về công tác bảo trì công trình đê sông 1.1 Giải thích từ ngữ liên quan đến đê điều - Đê là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật. - Đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ. - Đê sông là đê ngăn nước lũ của sông. - Đê biển là đê ngăn nước biển.
- Đê cửa sông là đê chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển. - Đê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt. - Đê bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông. - Đê chuyên dùng là đê bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt.
- Kè bảo vệ đê là công trình xây dựng nhằm chống sạt lở để bảo vệ đê. - Cống qua đê là công trình xây dựng qua đê dùng để cấp nước, thoát nước hoặc kết hợp giao thông thuỷ. - Công trình phụ trợ là công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ đê điều, bao gồm công trình tràn sự cố; cột mốc trên đê, cột chỉ giới, biển báo đê điều, cột thủy chí, giếng giảm áp, trạm và thiết bị quan trắc về thông số kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đê; điếm canh đê, kho, bãi chứa vật tư dự trữ phòng, chống lũ, lụt, bão, trụ sở Hạt quản lý đê, trụ sở Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão; công trình phân lũ, làm chậm lũ; dải cây chắn sóng bảo vệ đê. - Chân đê đối với đê đất là vị trí giao nhau giữa mái đê hoặc mái cơ đê với mặt đất tự nhiên được xác định tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mốc chỉ 4 giới hành lang bảo vệ đê.
Chân đê đối với đê có kết cấu bằng bê tông hoặc vật liệu khác là vị trí xây đúc ngoài cùng của móng công trình. - Cửa khẩu qua đê là công trình cắt ngang đê để phục vụ giao thông đường bộ, đường sắt. - Phân lũ là việc chuyển một phần nước lũ của sông sang hướng dòng chảy khác. - Làm chậm lũ là việc tạm chứa một phần nước lũ của sông vào khu vực đã định.
- Công trình đặc biệt là công trình liên quan đến an toàn đê điều, bao gồm công trình quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, công trình ngầm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống giếng khai thác nước ngầm; cửa khẩu qua đê, trạm bơm, âu thuyền; di tích lịch sử, văn hóa, khu phố cổ, làng cổ; cụm, tuyến dân cư trong vùng dân cư sống chung với lũ và trên các cù lao. - Hộ đê là hoạt động nhằm bảo đảm an toàn cho đê điều, bao gồm cả việc cứu hộ các công trình liên quan đến an toàn của đê điều. - Bãi sông là vùng đất có phạm vi từ biên ngoài hành lang bảo vệ đê điều trở ra đến bờ sông. - Bãi nổi, cù lao là vùng đất nổi trong phạm vi lòng sông.
- Lòng sông là phạm vi giữa hai bờ sông. - Mực nước lũ thiết kế là mực nước lũ làm chuẩn dùng để thiết kế đê và công trình liên quan, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. - Lưu lượng lũ thiết kế là lưu lượng lũ của một con sông tương ứng với mực nước lũ thiết kế.2 Khái niệm về bảo trì công trình xây dựng Đảm bảo tuổi thọ công trình ngày nay đã trở thành nội dung quan trọng của chiến lược quản lý tài sản ở nhiều nước trên thế giới. Từ trước năm 1980 phần lớn các nước đều coi việc quản lý loại tài sản này như là một chế độ “duy tu”, “bảo dưỡng” nhằm thỏa mãn hơn nhu cầu của người sử dụng.
Ngày nay, các nước tiên tiến trên thế giới đều 5 cho rằng chiến lược quản lý loại tài sản này phải được thiết lập trên cơ sở đảm bảo chất lượng dài hạn thông qua các biện pháp kỹ thuật và pháp lý xuyên suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và khai thác nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng. Chiến lược này được cụ thể thông qua chế độ bảo trì “CTXD”. Chúng ta cần hiểu, bảo trì là sự bảo đảm rằng các tài sản vật chất tiếp tục thực hiện được các chức năng xác định của chúng. Bất kì một tài sản vật chất nào được đưa vào sử dụng đều nhằm thực hiện một hoặc nhiều chức năng cụ thể.
Vì thế khi chúng ta bảo trì một tài sản, trạng thái mà ta muốn bảo vệ phải là trạng thái mà tài sản đó tiếp tục thực hiện được chức năng xác định. Nói cách khác, nếu một tài sản vật chất ngay từ đầu đã không thể xác định được các chức năng của nó thì bảo trì cũng không mang lại khả năng đó. Chính vì vậy khi thiết kế đã phải tính đến toàn bộ thời gian sử dụng công trình.[1] Ở Việt Nam, lần đầu tiên “bảo trì CTXD” được xuất hiện trong nghị định 52/1999/NĐ- CP của Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư xây dựng. Tính đến thời điểm này, Nghị định 114/2010/NĐ- CP, Thông tư 02/2012/TT-BXD, Nghị định 46/2015/NĐ-CP là những văn bản pháp lý chính thức quy định đầy đủ nhất về công tác bảo trì CTXD.
Theo nghị định 46/2015/NĐ-CP khái niệm về “bảo trì công trình” là tập hợp các công việc nhằm đảm bảo và duy trì sự làm việc bình thường, an toàn của công trình theo quy định của thiết kế trong suốt quá trình khai thác sử dụng.3 Đặc điểm của công trình đê điều 1.1 Đặc điểm của sản phẩm ảnh hưởng đến vấn đề chất lượng - Tính cá hiệt, đơn chiếc - Công trình đê điều mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng, bên cạnh đó còn mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về cấu tạo và phương pháp sản xuất, chế tạo. Vì lý do đó, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, các quy trình quy phạm, công nghệ thi công rất phức tạp và đa dạng. - Được xây dựng và sử dụng tại chỗ 6 Công trình đê điều là các công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ. Vốn đầu tư xây dụng lớn, thời gian xây dựng cũng như thời gian sử dụng lâu dài.
Vì tính chất này nên khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khâu quy hoạch, lập dự án, chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây lắp công trình sao cho hợp lý, tránh phá đi làm lại hoặc sửa chữa không đảm bảo về thời hạn hoàn thành công trình, gây thiệt hại vốn đầu tư của chủ đầu tư, vốn sản xuất của các nhà thầu và giảm tuổi thọ công trình. -Kích thước và trọng lượng lớn, cấu tạo phức tạp Công trình đê điều thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn. Số lượng chủng loại vật tư, thiết bị xe máy thi công và hao phí lao động cho mỗi công trình cũng rất khác nhau, luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Công tác giám sát chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện thi công gặp nhiều khó khăn.
Giá thành sản phẩm xây dựng rất phức tạp, thường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ gây khó khăn cho công tác khống chế giá thành công trình xây dựng. - Liên quan đến nhiều ngành, đến môi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm và cả về phương diện sử dụng công trình. Sản phẩm xây dụng ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan và môi trường tự nhiên và do đó liên quan nhiều đến lợi ích cộng đồng nhất là đối với dân cư địa phương nơi đặt công trình do đó vấn đề vệ sinh và bảo vệ môi trường được đặc biệt quan tâm trong xây dựng công trình. -Thể hiện trình độ phát triển kinh tế- văn hoá – xã hội từng thời kỳ Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng.
Sản phẩm xây dựng chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, mang bản sắc văn hoá dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt của dân cư… 1.2 Đặc điểm của sản xuất xây dựng ảnh hưởng đến vấn đề chất lượng Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ chức và quản lý sản xuất xây dựng, làm cho việc thi công xây dựng công trình có nhiều điểm khác biệt so với việc sản xuất sản phẩm của các ngành công nghiệp khác, sản 7 xuất xây dựng có các đặc điểm sau ảnh hưởng đến chất lượng và công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng: - Thời gian xây dựng công trình dài, chỉ phí sản xuất sản phẩm lớn +Vốn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư và vốn sản xuất của các doanh nghiệp xây dựng thường bị ứ đọng lâu trong công trình. + Doanh nghiệp xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian như rủi ro về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết; các rủi ro thanh toán, biến động giá cả; các rủi ro về an ninh, an toàn… - Tổ chức sản xuất phức tạp Quá trình sản xuất xây dựng mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp, các công việc xen kẽ và có ảnh hưởng lẫn nhau, có thể có nhiều đơn vị cùng tham gia thi công công trình. Do đó, công tác tổ chức quản lý sản xuất trên công trường rất phức tạp, biến động, gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi phải phối hợp hoạt động của các nhóm làm việc khác nhau trên cùng một diện công tác. - Sản xuất xây dựng tiến hành ngoài trời Sản xuất xây dựng thường được tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện thiên nhiên tới các hoạt động lao động.
Các doanh nghiệp xây lắp khó lường trước những khó khăn phát sinh do điều kiện thời tiết, khí hậu. Ngoài ra, sản xuất xây dựng là lao động nặng nhọc, làm việc trên cao, dễ mất an toàn lao động và phát sinh bệnh nghề nghiệp. -Sản xuất theo đơn đặt hàng Sản xuất xây dựng thường theo đơn đặt hàng và thường là các sản phẩm xây dựng được sản xuất đơn chiếc.