Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Rối loạn cơ xương RLCX là biểu hiện của các rối loạn hoặc tổn thương ở thần kinh, gân, cơ và các tổ chức nâng đỡ liên đốt sống. RLCX là biểu hiện của nhiều rối loạn khác nhau về mức độ, từ nhẹ đến nặng, mạn tính gây mất khả năng lao động [15]. Rối loạn cơ xương nghề nghiệp Rối loạn cơ xương nghề nghiệp (RLCXNN) là một nhóm bệnh mạn tính của những mô mềm được phát sinh và gây khó chịu cho người, do quá trình làm việc và cử động lặp đi lặp lại quá sức của cơ thể [18].
Bệnh mạn tính: Là bệnh tiến triển dần dần và kéo dài, thời gian bệnh từ 3 tháng trở lên. Bệnh mạn tính thường gặp bao gồm những bệnh không truyền nhiễm như viêm khớp, bệnh hen suyễn, ung thư, bệnh tiểu đường và các bệnh do virus gây ra như viêm gan siêu vi C và HIV/AIDS [21]. Nguy cơ rối loạn cơ xương mạn tính: Là khả năng tác động của yếu tố tác hại nghề nghiệp trong quá trình làm việc như tư thế ngồi lâu, cúi khom, với tay, cúi đầu, bàn ghế thiết kế không phù hợp, … tạo ra các rối loạn hoặc tổn thương ở thần kinh, gân, cơ và các tổ chức nâng đỡ liên đốt sống của người lao động trong thời gian dài. Công nhân may Công nhân may là những người làm việc trực tiếp vận hành các bàn máy may.
Sức khỏe Sức Khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ là tình trạng không có bệnh hay thương tật [54]. Bệnh nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp (BNN) là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh do tác hại 5 thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu. Hiện nay, Việt Nam đã có 34 BNN trong danh mục được bảo hiểm [4]. Điều kiện lao động Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, tự nhiên, thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố đó tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất [8, 11, 16].
Vị trí lao động Vị trí lao động là một khoảng không gian trong đó được trang bị các phương tiện kỹ thuật để một người hay một nhóm người làm việc, thực hiện một công việc hay một công đoạn [3]. Rối loạn cơ xương 1. Triệu chứng rối loạn cơ xương RLCX gây ảnh hưởng tới mô cơ, thần kinh, gân, bao gân của tay và ở một số bộ phận khác của cơ thể. RLCX được coi là có nguồn gốc từ các vi chấn thương mạn tính, lặp đi lặp lại ảnh hưởng tới một bộ phận nào đó của cơ thể như: cơ gấp các ngón tay, gân xoay cổ tay… tác hại của chúng được tích luỹ theo thời gian [18].
Một vài loại RLCX có tiêu chuẩn chẩn đoán riêng, có cơ chế bệnh học rõ ràng, như bệnh rung cục bộ truyền theo đường tay, trong khi một vài loại RLCX khác lại chưa được xác định rõ ràng về sinh lý bệnh học như: + Đau lưng, thắt lưng. + RLCX ở chi trên bao gồm Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrom - CTS), viêm mỏm lồi cầu… Những dấu hiệu, triệu chứng của RLCXNN phát triển từ từ kéo dài theo tuần, tháng hoặc năm. Những đặc điểm mạn tính tiềm ẩn này gây khó khăn cho việc phát hiện nguyên nhân. Ban đầu là những triệu chứng mà người công nhân không để ý, cho tới khi ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ, an toàn và năng suất lao động, thì đã phát triển sang giai đoạn bệnh lý trầm trọng [18].
Đau là triệu chứng thường gặp nhất của liên quan công việc với RLCX. Trong một số trường hợp có thể có cứng khớp, căng cơ, tấy đỏ và sưng vùng bị ảnh 6 hưởng. Một số công nhân cũng có thể trải nghiệm cảm giác của chân và kim tiêm, tê liệt, thay đổi màu da và giảm mồ hôi của bàn tay [30]. RLCX có thể tiến triển trong giai đoạn từ nhẹ đến nặng.
Giai đoạn sớm: Đau nhức và mệt mỏi của chi bị tổn thương xảy ra trong ca làm việc nhưng biến mất vào ban đêm và trong những ngày nghỉ làm việc. Giai đoạn này không giảm hiệu suất làm việc [30]. Giai đoạn bệnh: Đau nhức và mệt mỏi xảy ra sớm trong ca làm việc và kéo dài vào ban đêm. Giai đoạn này giảm hiệu suất cho công việc lặp đi lặp lại [30].
Giai đoạn nặng: Nhức, mệt mỏi và suy nhược kéo dài ở phần còn lại. Giai đoạn này gây mất ngủ và có khả năng không thể tiếp tục làm việc [30]. Không phải ai cũng đi qua các giai đoạn bệnh giống nhau. Trong thực tế, khó có thể xác định chính xác các giai đoạn bệnh.
Cơn đau đầu tiên là một tín hiệu cho thấy các cơ bắp và dây chằng nên nghỉ ngơi và hồi phục. Nếu không, một chấn thương có thể trở thành mạn tính, đôi khi không thể điều trị được [30]. Phân loại rối loạn cơ xương RLCX được phân thành 5 loại sau: - Rối loạn gân (viêm gân, viêm bao gân hoạt dịch, viêm mỏm trên lồi cầu bên, viêm gân xoay cổ tay…) [18]. - Rối loạn thần kinh ngoại biên (hội chứng ống xương trụ, viêm dây thần kinh ngón tay, hội chứng ống khối xương cổ tay…) [18].
- Rối loạn thần kinh vận mạch (hội chứng rung động tay – cánh tay “Raynauds”…) [18]. - Rối loạn khớp hoặc bao khớp (viêm bao hoạt dịch, viêm mủ màng hoạt dịch…) [18]. Tình hình rối loạn cơ xương trong công nhân may 1. Trên thế giới Theo WHO rối loạn cơ xương là bệnh nghề nghiệp phổ biến nhất [55].
Một cuộc khảo sát của OG Akanbi và AN Ikemefuna năm 2010 về các thợ máy may ở Nam tây Nigeria cho thấy RLCX lần lượt là 97% kêu đau cổ, vai, 43% đau cánh tay 7 trên, 3% của đau ở vùng khuỷu tay và cẳng tay, 58% đau ngực và 2% đau ở ngón tay [25]. Nghiên cứu của Wakjira Kebede Deyyas và Ararso Tafese năm 2014 về các yếu tố môi trường và tổ chức liên kết với khuỷu tay/cẳng tay và tay/cổ tay rối loạn giữa các thợ may công nghiệp may mặc ở Ethiopia. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu 422 công nhân may cả nam và nữ, thu thập số liệu bằng bộ công cụ Nordic. Kết quả tỷ lệ hiện mắc triệu chứng của cổ, vai, lưng, cổ tay và các thợ may đã được tìm thấy lần lượt là 57%, 51%, 47%, và 26%, tương ứng [34].
Tình trạng sức khỏe của người lao động nữ trong ngành may mặc của Bangladesh nghiên cứu của Shaheen AHMED và Mohammad Zahir RAIHAN năm 2014, tỷ lệ đau lưng chiếm 68% [24]. Nghiên cứu Sk. Akhtar Ahmad, MH Salimullah Sayed và cộng sự năm 2007 về RLCX và yếu tố ecgonomi giữa các công nhân may ở Dhaka, Bangladesh. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu 600 công nhân may từ 3 công ty, đối tượng làm việc tất cả công đoạn: cắt, may, hoàn tất.
Kết quả tỷ lệ RLCX của công nhân may là 57,5% [23]. Nghiên cứu của Lina Bandyopadhyay, Baijayanti Baur và cộng sự năm 2012 về cơ xương và sức khỏe khác trong vấn đề lao động của quy mô công nghiệp may nhỏ - Kinh nghiệm từ một khu ổ chuột đô thị, Kolkata, Ấn Độ cho thấy rối loạn cơ xương là phổ biến nhất (78,5%) [28]. Nghiên cứu của Leap VAN và cộng sự năm 2016 về tỷ lệ hiện mắc các rối loạn cơ xương trong công nhân may mặc tại tỉnh Kandal, Campuchia. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu 714 công nhân từ 3 công ty may.
Đối tượng nghiên cứu là công nhân may, công nhân cắt, ủi, đóng gói, hoàn tất. Với độ tuổi trung bình là 27,2 ± 7,45 tuổi. Sử dụng bộ công cụ Nordic để đánh giá tỷ lệ hiện mắc rối loạn cơ xương của công nhân. Kết quả có 92% người lao động báo cáo có triệu chứng cơ xương trong ít nhất một vùng cơ thể trong vòng 12 tháng trước và 89,0% của người lao động báo cáo xuất hiện triệu chứng như vậy trong thời gian bảy ngày qua [52].
Theo nghiên cứu của S. Peiris-John và cộng sự về đau mỏi cơ xương ở bốn nghề nghiệp phổ biến ở Sri Lanka năm 2012. Kết quả cho thấy tỷ lệ hiện mắc RLCX của nữ công nhân may như sau: cổ 24 %, vai 25%, lưng 33% [53]. 8 Theo nghiên cứu của Maduagwu SM, Sokunbi GO và cộng sự (2015) tỷ lệ hiện mắc RLCX cổ, vai, lưng trên và lưng dưới trong 12 tháng lần lượt là: 34,7%, 26.
Trong nghiên cứu của Maduagwu SM và cộng sự đã trích dẫn các nghiên cứu: của Afonso và cộng sự ước tính 76% tỷ lệ hiện mắc phổ biến của RLCX thợ máy may ở Bồ Đào Nha. Cổ tay/bàn tay (42%), cổ (32%) lưng (30%) và vai (23%) là những bộ phận cơ thể bị ảnh hưởng nhất; Tại Đan Mạch, Kaegaard và Andersen báo cáo tỷ lệ trung bình đến đau cơ xương nặng ở cổ/vùng vai và lưng trên lần lượt là 24% và 16% trong số thợ máy may ở Los Angeles. Một kết quả của một nghiên cứu về các vấn đề ergonomic các thợ máy may trong ngành công nghiệp sản xuất dệt may tại Botswana cho thấy một tỷ lệ cao của RLCX. Những học giả kết luận rằng lưng, cổ và vai khó chịu là rất phổ biến ở các thợ máy may [51].
Nghiên cứu của E. Männaste và các cộng sự (2016) về dự đoán và tỷ lệ hiện mắc RLCX trong vận hành máy may của công nhân Estonia. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang đối tượng là nữ công nhân may, cỡ mẫu phân tích là 57 công nhân. Kết quả đau cơ xương khớp là 91,2% các trường hợp trong 12 tháng qua và 82,5% trong tháng vừa qua [46].
Tại Việt Nam Theo kết quả khảo sát trên 1,000 công nhân may tuổi từ 25-35, tại 3 doanh nghiệp ở Bình Dương, TPHCM và Đồng Nai của Viện Y tế công cộng TPHCM, năm 2008 với thiết kế cắt ngang kết quả cho thấy, hơn 80% đau cơ xương tại thắt lưng, vùng cổ và bả vai [10]. Theo Nghiên cứu của Bùi Hoài Nam và cộng sự về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe của nữ công nhân may – Công ty TNHH Minh Anh năm 2013, thiết kế cắt ngang. Đối tượng là 400 nữ công nhân may Kết quả đau mỏi bộ phận cơ thể sau ca lao động ở nữ công nhân chủ yếu là đau lưng (52,3%), đau cổ (35%), đau vai (22%), đau bàn chân (11,5%) và đau cột sống thắt lưng chiếm 8,3% [13].