Chương 1: Tổng quan về quản lý và chất lượng khai thác đường ô tô ở Việt Nam. Chương 2: Đánh giá khả năng thông hành của đường ôtô. Chương 3: Nghiên cứu đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao khả năng thông hành đoạn km 0+900÷ km15+200 trên quốc lộ 60. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ VÀ CHẤT LƢỢNG KHAI THÁC ĐƢỜNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM 1.
Vai trò của GTVT đƣờng bộ trong nền kinh tế quốc dân GTVT là một ngành dịch vụ, tham gia vào việc cung ứng vật tư, nguyên liệu, năng lượng cho các cơ sở sản xuất và đưa sản phẩm đến thị trường tiêu thụ, giúp cho các quá trình sản xuất xã hội diễn ra liên tục và bình thường. GTVT phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, giúp cho các hoạt động sinh hoạt được thuận tiện. Ở Mỹ, người ta đầu tư 18-20% GDP cho GTVT, ở nước ta hằng năm từ 3-3,5% GDP và từ 12-13% tổng thu ngân sách dành cho GTVT. Giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân là một trong những điều kiện quan trọng giữ vai trò nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội, giúp người đi lại: Sản xuất, sinh hoạt., mọi hoạt động, vận chuyển hàng hóa, lưu thông hàng hóa.
Giao thông vận tải kích thích nền kinh tế xã hội thông qua quá trình sản xuất mang tính chuyên môn hóa: công nghiệp, nông nghiệp.(khu chế xuất, khu chuyên canh.) phải đảm bảo vận chuyển để lưu thông. Hàng nông nghiệp hư hỏng nhanh cần vận chuyển cần kịp thòi. Hàng tiêu dùng mang tính thòi vụ (mốt) cần vận chuyển kịp thời. Nơi sản xuất: thì càn nguyên liệu cung ứng kịp thời và cần vận chuyển sản phẩm nhanh chóng đến nơi tiêu thụ.
Lưu thông vận chuyển đòi hỏi chẳng những ở những ngành sản xuất vật chất mà còn ở những ngành phi vật chất: thương mại, dịch vụ, du lịch. + Giao thông vận tải có vai trò to lớn trong an ninh quốc phòng. + Giao thông vận tải được gọi là ngành sản xuất đặc biệt [bao gồm cả sản xuất của cải vật chất (sản phẩm xây dựng) và phi vật chất (vận chuyển)] chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế. Do vậy, GTVT là một ngành kinh tế quan trọng, một ngành sản xuất vật chất “đặc điệt”.
Nó bao gồm ba yếu tố của quá trình sản xuất: tư liệu sản xuất, người lao động và sản phẩm vận tải. GTVT được xem như là mạch máu trong tổ 6 chức nền kinh tế của quốc gia: giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục và bình thường; phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân; là yếu tố quan trọng trong phân bố sản xuất và dân cư; thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hoá ở những vùng xa xôi và tăng cường sức mạnh quốc phòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc dễ dàng.
Giao thông xấu thì các việc đình trệ” [6]. GTVT bao gồm các phương thức chủ yếu là: đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường hàng không. Trong đó, GTVT đường bộ, chủ yếu là đường ôtô, là phương thức vận tải cơ bản, một bộ phận rất quan trọng trong ngành GTVT, nó có những ưu thế hơn hẳn mà các phương thức giao thông vận tải khác không có được, như: - Có tính năng cơ động cao, phù hợp với việc vận chuyển nhỏ nhẹ ở các địa hình khác nhau, cự ly vận tải ngắn và trung bình; vận chuyển trực tiếp mà không cần các phương tiện chuyển tải trung gian. Với các phương tiện ôtô chuyên dụng, vận tải ôtô đáp ứng được yêu cầu vận chuyển các mặt hàng khó chuyên chở (như: thực phẩm tươi sống, chất dễ cháy nổ, hóa chất gây ăn mòn, độc hại,.
Việc vận chuyển hành khách bằng các loại ôtô buýt, ôtô du lịch cao cấp vừa lịch sự, vừa thoải mái, vừa chủ động về thời gian. - Đường bộ đòi hỏi kinh phí đầu tư ít hơn đường sắt, độ dốc dọc lớn hơn nên đến được các nơi có địa hình hiểm trở. Ôtô có khả năng len lỏi tới khắp nơi trên đất nước, trong mọi điều kiện thời tiết khí hậu, những nơi điều kiện đường sá khó khăn hay độ dốc khá cao, các tuyến đường có bán kính quay vòng nhỏ,. Vì vậy, về mặt chính trị, quốc phòng thì đây là một ngành vận tải rất quan trọng.
- Tốc độ vận tải khá lớn, nhanh hơn đường thủy, tương đương đường sắt, trên đường cao tốc vận tốc có thể đạt 100 km/h nên với các cự ly ngắn có thể cạnh tranh với đường hàng không. - Chi phí vận chuyển rẻ hơn nhiều so với đường hàng không nên khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách bằng đường bộ chiếm tỷ trọng cao trong ngành vận tải, ở Việt Nam chiếm khoảng 50% khối lượng hàng và khoảng 7 90% khối lượng vận chuyển (T. Nhược điểm chủ yếu của GTVT đường bộ hay vận tải ôtô là: trọng tải tương đối nhỏ, thông thường dưới 30 tấn. Trong những vùng cần vận chuyển khối lượng lớn và chuyên dụng (như: công trường khai thác than, quặng,.) thì trọng tải có thể lên đến 30 – 60 tấn; tỉ trọng giữa trọng lượng của bản thân với tải trọng của ôtô quá cao làm giảm khả năng chuyên chở, tăng chi phí nhiên liệu và giảm hiệu quả kinh tế so với đường sắt; đồng thời gây ô nhiễm, tiếng ồn; tai nạn ôtô đã trở thành nguyên nhân gây tử vong và chấn thương đứng hàng đầu trên thế giới.
Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng: GTVT đường bộ là không thể thiếu đối với bất kỳ một nền kinh tế nào. Bên cạnh đó, vai trò quan trọng của nó là thúc đẩy sự phát triển mọi mặt nền kinh tế - xã hội của quốc gia, động lực phát triển ngành GTVT với tư cách như một cầu nối giữa các phương thức vận tải khác. Từ thế kỷ XX, ngành công nghiệp ôtô đã có những bước tiến bộ nhảy vọt đáng kể. Ôtô không ngừng được cải tiến về tốc độ, tiện nghi, năng lực vận chuyển và tính cơ động.
Hàng loạt ôtô đời mới ra đời ở Mỹ, Châu Âu và Nhật bản kéo theo sự phát triển nhanh chóng mạng lưới giao thông đường bộ trên toàn thế giới. Tại Hoa Kỳ và Tây Âu, từ việc phát triển giao thông đường ôtô ở các vùng ngoại ô, các thành phố lớn đến sự hiện diện của hệ thống đường cao tốc. Trong thế kỷ XXI, GTVT phát triển hết sức nhanh chóng và vận tải mặt đất ngày nay trên thế giới chủ yếu là vận tải đường bộ, sản lượng chiếm khoảng 20% tổng số ngành vận tải, giá trị lớn hơn vận tải đường sắt gần 20 lần, góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững chắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới, GTVT đường bộ càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trở thành tiền đề của sự phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo mối liên hệ thông suốt giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi.
Với vai trò là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, GTVT nói chung và đường bộ nói riêng lại trở thành tiền đề thúc đẩy sự phát 8 triển kinh tế và tập trung dân cư của mỗi quốc gia. Như vậy có thể thấy: Giao thông vận tải là mạch máu, nếu GTVT ngừng thì sẽ dẫn đến ngừng sản xuất và ngừng hoạt động khác. GTVT yếu kém sẽ dẫn đến hoạt động du lịch, lưu thông không thể phát triển và ảnh hưởng đến phát triển sản xuất thông qua hàng hóa ùn đọng. Công tác quản lý và khai thác đƣờng ôtô ở Việt Nam [21, 10] Mạng lưới giao thông đường bộ nước ta bao gồm 6 hệ thống: Quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị và đường chuyên dùng.
Hiện nay, cả nước có trên 280.864 Km đường bộ, trong đó: Quốc lộ có trên 91 tuyến với tổng chiều dài 17.646 Km (chiếm 6,28%), đường tỉnh 25.499 Km (chiếm 9,08%), đường huyện 51.721 Km (chiếm 18,41%), đường xã trên 161.136 Km (chiếm 57,37%), đường đô thị 17.025 Km (chiếm 6,06%) và đường chuyên dùng 7.837 Km (chiếm 2,79%) được thể hiện tại Hình 1. Trong tổng số 17.646 Km Quốc lộ nêu trên, Bộ GTVT đã ủy thác cho 46 địa phương quản lý là 7.892 Km do 04 Khu QLĐB quản lý. Hệ thống mạng lưới giao thông đường bộ ở nước ta Việc quản lý và bảo trì hệ thống đường bộ này đã được Chính phủ phân cấp từ trước đến nay. Theo đó, Bộ GTVT chịu trách nhiệm quản lý hệ thống quốc lộ, đường cao tốc (Bộ GTVT giao nhiệm vụ quản lý cho Tổng Cục đường bộ Viện Nam); UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý một số quốc lộ được Bộ GTVT ủy thác, đường tỉnh, đường đô thị; việc quản lý, bảo trì hệ thống đường địa 9 phương do UBND cấp tỉnh quy định (UBND tỉnh giao nhiệm vụ quản lý cho Sở GTVT, UBND huyện); đường chuyên dùng trong các khu công nghiệp, lâm trường, đường không do Nhà nước quản lý, khai thác; đường được đầu tư xây dựng không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đều do Chủ đầu tư tổ chức quản lý, bảo trì.
Sơ đồ tổ chức và quản lý khai thác đường bộ được thể hiện tại Hình 1. Quản lý, khai thác và bảo trì đường là một công việc rất quan trọng nhằm mục đích quản lý đường (hệ thống công trình đường) ở thời kỳ khai thác (vận hành) để đường đảm bảo hoạt động bình thường theo chức năng của nó; sửa chữa, bảo dưỡng nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đường đang khai thác. Tổ chức quản lý và khai thác đường bộ. Như đã biết, đặc điểm của quản lý và khai thác đường bộ là một công việc có nội dung rộng, bao gồm nhiều công tác quản lý khác nhau đòi hỏi phải phối hợp một cách chặt chẽ trong một hệ thống, nhằm phát huy hiệu quả cao nhất 10 phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước, đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng.
Quản lý và khai thác đòi hỏi mức độ sử dụng kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu về chất lượng kỹ thuật công trình và chất lượng kỹ thuật giao thông. Quản lý và khai thác đường cần được xem là một dịch vụ tổng hợp, đáp ứng tối đa mọi yêu cầu về giao thông: đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, kỹ thuật sửa chữa, cung ứng xăng dầu,. và ngay cả dịch vụ theo yêu cầu (đặc biệt là đối với giao thông đường dài). Với những đặc điểm trên đây, nhiệm vụ của công tác quản lý khai thác đường là: - Đảm bảo một cơ cấu điều hành, hoạt động quản lý một cách hợp lý có năng lực và hiệu quả.