phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo gồm có 4 chƣơng. 3 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Về mặt nghiên cứu, đã có nhiều chuyên gia, nhà khoa học [15], [17], [23], [33], [37], [40], [41], [55], [56], [70], [71], [79], [81], [83], [86]… nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm, đặc biệt là tại các kỳ quốc hội đã nhận định phát triển cho giao thông đƣờng bộ nhiều nhƣng kém hiệu quả hay những phiên chất vấn Bộ trƣởng Bộ Giao thông vận tải cũng đề cập đến quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ từ nhiều khía cạnh khác nhau. Hầu hết các hội thảo đã đƣợc tổ chức lấy ý kiến từ nhiều kênh nhằm tìm ra những sáng kiến, đổi mới trong các khâu của quy hoạch phát triển cho giao thông từ đó góp phần nâng cao hiệu quả phát triển giao thông đƣờng bộ.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của các nhà khoa học, các chuyên gia về vấn đề quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ nhƣ sau: Các công trình nghiên cứu trong nước - Nghiên cứu của Phạm Xuân Anh về nâng cao cở sở khoa học của việc phân tích dự án đầu tƣ cho một số loại hình cơ sở hạ tầng [15]. Trong đó, tác giả đề cập đến dự án dầu tƣ xây dựng cho công trình giao thông đƣờng bộ có đƣa thêm các chỉ tiêu bổ sung khi đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội của dự án đầu tƣ nhƣ tổng giá trị sản phẩm gia tăng, tổng số tiền nộp cho ngân sách, thu nhập ngƣời lao động, những thiệt hại về văn hóa xã hội khi di dời, giải tỏa hay điều kiện làm việc…Tác giả chỉ sử dụng các chỉ tiêu khi so sánh trƣớc và sau khi có dự án. - Nghiên cứu của Bùi Mạnh Cƣờng về nâng cao hiệu quả đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam [17]. Tác giả đề cập đến 4 z đầu tƣ phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc toàn diện cả về định tính, định lƣợng, với tầm mức đánh giá cả về vi mô và vĩ mô trong nền kinh tế chuyển đổi, khả năng huy động vốn và sử dụng hợp lý nguồn vốn.
Trong đó tác giả có đề cập đến việc cần phải hoàn thiện quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ. - Nghiên cứu của Huỳnh Thị Thúy Giang về hình thức hợp tác công - tƣ để phát triển cở sở hạ tầng giao thông đƣờng bộ Việt Nam [23]. Tác giả đã đề cập đến việc hoàn thiện quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ khi sử dụng hình thức này đầu tƣ cho giao thông đƣờng bộ. Tác giả đánh giá cao hình thức hợp tác công tƣ trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, có nhƣ thế mới nâng cao hiệu quả đầu tƣ khi có sự phân bổ hợp lý về lợi ích, chi phí, rủi ro và trách nhiệm giữa hai khu vực.
Sự hợp tác này thể hiện kết quả mong đợi đó là hiệu quả về chất lƣợng sản phẩm và sử dụng vốn nhƣng quyền sở hữu vẫn thuộc về khu vực công và đƣơng nhiên khu vực tƣ nhân sẽ chuyển giao tài sản khi kết thúc thời gian hợp đồng. - Nghiên cứu của Trần Minh Phƣơng về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam [33]. Tác giả có đề cập đến những tác động tích cực từ quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đến phát triển kinh tế - xã hội nhƣ tăng năng lực vận tải, tăng doanh thu, tăng tổng đầu tƣ toàn xã hội, giảm tai nạn giao thông… Bên cạnh đó tác giả cũng so sánh các chỉ tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam với quốc tế, từ đó đề xuất một số giải pháp về quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đáp ứng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Nghiên cứu của Âu Phú Thắng về hoàn thiện phƣơng pháp đánh giá hiệu quả dự án đƣờng ô tô, trong đó đặc biệt quan tâm đến các công trình đƣờng bộ BOT [37].
Tác giả có nêu ra một số phƣơng pháp đánh giá hiệu quả đầu tƣ xây dựng nhƣ chỉ tiêu lợi nhuận thuần, chỉ tiêu suất lợi nhuận, tỷ lệ nội hoàn, thời 5 z gian hoàn vốn…Khi nghiên cứu về đánh giá hiệu quả dự án, tác giả chủ yếu phân tích về hiệu quả tài chính. Chủ yếu là các phƣơng pháp đánh giá hiệu quả dự án đầu tƣ đƣờng ô tô nhƣ phƣơng pháp phân tích chi phí - lợi ích, phƣơng pháp phân tích chi phí - hiệu quả, phƣơng pháp phân tích đa chỉ tiêu nhƣ về mặt kinh tế, môi trƣờng, xã hội và các yêu cầu khác của chủ đầu tƣ. - Nghiên cứu của Đỗ Thị Ánh Tuyết về Chống thất thoát, lãng phí trong đầu tƣ xây dựng các công trình giao thông tại Việt Nam [40]. Tác giả đề cập đến hoạt động đầu tƣ xây dựng các công trình giao thông.
Để nâng cao hiệu quả đầu tƣ nên đầu tƣ có trọng tâm, trọng điểm và điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tƣ cho hệ thống công trình giao thông một cách hợp lý, sử dụng nguồn vốn đầu tƣ, đổi mới và nâng cao chất lƣợng công tác quy hoạch và quyết định đầu tƣ. - Nghiên cứu của Đỗ Đức Tú về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vùng đồng bằng sông Hồng [41]. Tác giả có đề cập đến một số chỉ tiêu và tiêu chí phản ánh tính hiện đại và tính đồng bộ của kết cấu hạ tầng giao thông, để đầu tƣ kết cấu hạ tầng giao thông có hiệu quả. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng phù hợp hơn.
Ngoài ra các giáo trình, các bài nghiên cứu của nhiều tác giả trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tƣ chủ yếu nghiên cứu về mặt tài chính của dự án, chƣa đi nghiên cứu sự ảnh hƣởng của đầu tƣ phát triển giao thông đƣờng bộ có ảnh hƣởng tích cực đến kinh tế xã hội cụ thể ở những vấn đề nhƣ thu ngân sách, thu nhập quốc dân, khối lƣợng vận chuyển hàng hóa và dịch vụ, hay giảm nghèo của khu vực… Các tác giả khác có nghiên cứu đến hiệu quả dự án đầu tƣ công trình giao thông trong các giáo trình, bài giảng, các tạp chí…nhƣ GS.TSKH Nghiêm Văn Dĩnh, PGS.TS Phạm Văn Vạng, Nguyễn Văn Chọn, Đặng Quang Liêm có đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả theo chỉ tiêu động và chỉ tiêu tĩnh, những lợi ích khi phát triển cơ sở hạ tầng giao thông. Trong giáo trình Dự án đầu tư – quản trị dự 6 z án đầu tư của tác giả PGS TS. Phạm Văn Vạng, Ths Vũ Hồng Trƣờng có đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tƣ trƣớc và sau khi có dự án nhƣ tỷ lệ tổng thu ngân sách / vốn đầu tƣ phát triển giao thông; tổng thu nhập quốc dân / vốn đầu tƣ phát triển giao thông; vốn đầu tƣ phát triển/ vốn đầu tƣ phát triển giao thông; khối lƣợng vận chuyển hàng hóa hay hành khách/ vốn đầu tƣ phát triển giao thông… Qua các nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy tầm quan trọng của việc quy hoạch phát triển cho giao thông đƣờng bộ, phát triển giao thông đƣờng bộ chiếm nguồn lực xã hội rất lớn và có tầm ảnh hƣởng đến các lĩnh vực khác. Những nghiên cứu trên khi đề cập đến phát triển cho giao thông đƣờng bộ đều nói đến khâu quy hoạch, chủ trƣơng chính sách, các tác động tích cực khi phát triển cho cơ sở hạ tầng nhƣ xóa đói giảm nghèo, tăng năng lực vận tải, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, hay nâng cao hiệu quả quản lý vốn, các giải pháp thu hút vốn…cho đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng kịp thời, đồng bộ và hợp lý.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước Các nghiên cứu của nƣớc ngoài về quy hoạch phát triển giao thông đƣờng bộ rất đa dạng, có thể chia ra ở các mặt sau: - Một là: nghiên cứu ảnh hƣởng của quy hoạch phát triển giao thông đến phát triển kinh tế nói chung và tăng trƣởng kinh tế nói riêng; - Hai là: nghiên cứu ảnh hƣởng của quy hoạch phát triển giao thông đến giảm nghèo; - Ba là: ảnh hƣởng của hạ tầng giao thông đƣờng bộ đến sự tăng trƣởng kinh tế. * Ảnh hưởng của quy hoạch phát triển giao thông đường bộ đến phát triển kinh tế Queiroz và Gautam trong nghiên cứu có tên “Hạ tầng giao thông và phát triển kinh tế” khảo sát mối quan hệ giữa thu nhập bình quân đầu ngƣời và mức độ và chất lƣợng cơ sở hạ tầng đƣờng bộ. Cách tiếp cận thực nghiệm 7 z cho phép các biến đƣợc chọn trong mạng lƣới đƣờng hiện có đƣợc so sánh trực tiếp hoặc phân tích tƣơng quan với thu nhập của một quốc gia. Phân tích dữ liệu chéo từ 98 quốc gia, và phân tích chuỗi dữ liệu thời gian của Hoa Kỳ kể từ năm 1950 cho thấy mối quan hệ phù hợp và quan trọng giữa phát triển kinh tế đo bằng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) đầu ngƣời và cơ sở hạ tầng đo bằng chiều dài bình quân đầu ngƣời của mạng lƣới đƣờng trải nhựa.
Các dữ liệu cho thấy tổng quy mô cơ sở hạ tầng đƣờng bộ bình quân đầu ngƣời của trong các nền kinh tế có thu nhập cao lớn hơn trong nền kinh tế có thu nhập trung bình và thấp. Ví dụ, mật độ trung bình của con đƣờng lát đá (km/triệu dân) thay đổi từ 170 đối với nền kinh tế có thu nhập thấp, và 1.660 ở nền kinh tế có thu nhập trung bình và 10.110 trong nền kinh tế có thu nhập cao (nền kinh tế này cao hơn 5.800 % so với nền kinh tế có thu nhập thấp). Điều kiện đƣờng xá cũng có mối tƣơng quan với phát triển kinh tế: mật độ trung bình của các con đƣờng lát đá trong tình trạng tốt (km/triệu dân) thay đổi từ 40 ở nền kinh tế có thu nhập thấp, đến 470 ở nền kinh tế có thu nhập trung bình và 8.550 ở nền kinh tế có thu nhập cao.