MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Ngô là một loại ngũ cốc quan trọng, đứng thứ ba sau lúa mì và lúa gạo. Là cây lương thực, góp phần nuôi sống gần 1/3 dân số trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng hàng thứ 2 sau lúa gạo. Diện tích gieo trồng và năng suất, sản lượng ngô cũng tăng mạnh, từ hơn 200 ngàn ha với năng suất 10 tạ/ha (năm 1960), tăng lên 1,170 triệu ha với năng suất 44 tạ/ha (năm 2013).
So với các nước thì năng suất ngô ở nước ta vẫn thuộc loại khá thấp. Đặc biệt tại một số địa phương miền núi vùng sâu, vùng xa như: tỉnh Lai Châu, Sơn La, Điện Biên… Một số đồng bào dân tộc ít người sử dụng ngô là nguồn lương thực, thực phẩm chính, sử dụng các giống ngô địa phương và tập quán canh tác lạc hậu nên năng suất ngô ở đây chỉ đạt trên dưới 1 tấn/ha. Hiện nay và trong những năm tới, ngô vẫn là cây ngũ cốc có vai trò quan trọng ở nước ta. Ngô có nhiều công dụng, tất cả các bộ phận của cây ngô từ hạt, đến thân, lá đều có thể sử dụng để làm lương thực, thực phẩm cho người, thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho công nghiệp (rượu ngô, sản xuất ethanol để chế biến xăng sinh học, thậm chí còn chế biến tạo ra một số vật dụng đồ dùng như điện thoại, đồ trang sức của phụ nữ…), một số bộ phận của ngô có chứa một số chất có vai trò như một loại thuốc chữa bệnh, làm chất đốt,… Để sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước trong khu vực và đáp ứng đủ nhu cầu ngô tiêu dùng trong nước cần phát triển sản xuất ngô theo 2 hướng: mở rộng diện tích và năng suất.
Tuy nhiên mở rộng diện tích trồng ngô là bài toán rất khó khăn do diện tích nông nghiệp hạn chế và phải cạnh tranh với nhiều loại cây trồng khác, cho nên tăng năng suất là phương án tối ưu để tăng sản lượng. Trong những giải pháp tăng năng suất thì giống được coi là n 2 hướng đột phá có ý nghĩa quyết định để nâng cao sản lượng và chất lượng nông sản. Giống tốt sẽ cho sản lượng cao hơn giống bình thường từ 20 – 25% (Ngô Hữu Tình, 2003) [7]. Mặc dù Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô nhưng những năm qua sản lượng ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu mà còn phải nhập khẩu.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên như điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giống, kỹ thuật canh tác của người dân và vấn đề nguồn vốn, thị trường tiêu thụ. Trong đó chưa có bộ giống tốt, đặc trưng cho vùng và các biện pháp kỹ thuật áp dụng trên đồng ruộng chưa khoa học, hợp lý là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Lai Châu là một tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam có nhiều lợi thế phát triển sản xuất ngô. Năm 2013 diện tích trồng ngô của tỉnh Lai Châu là 21.416 ha, năng suất bình quân đạt 27,1 tạ/ha, thấp hơn nhiều so với năng suất trung bình của cả nước (2013: 44,35tạ/ha).
Thời gian qua tỉnh luôn chú trọng tập trung đầu tư, phát triển nông lâm nghiệp, tuy nhiên tình hình sản xuất ngô tại Lai Châu hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Tam Đường là huyện miền núi của tỉnh Lai Châu , cây ngô là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau cây lúa. Khí hậu huyện Tam Đường chịu ảnh hưởng chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm 75-80% tổng lượng mưa trong năm. Tổng lượng mưa bình quân từ 1.000mm/năm, cao nhất 2.500mm/năm; mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.
Trong mùa này thường xuất hiện sương mù (bình quân 13 ngày/năm), sương muối (bình quân từ 2-3 ngày/năm). Nhiệt độ trung bình từ 22-26oC, biên độ dao động khá lớn: nhiệt độ cao nhất 35oC. Số giờ nắng 2. Độ ẩm không khí trung bình 83%.
n 3 Điều kiện trên đã ảnh hưởng đến cơ cấu thời vụ trồng ngô, tại đây bà con nông dân thường chủ yếu trồng ngô vào vụ Xuân - Hè và vụ Thu - Đông. Ngô được trồng chủ yếu trên đất không chủ động nước (đất một vụ lúa, đất soi bãi và đất trồng màu). Bên cạnh đó các biện pháp kĩ thuật trong sản xuất ngô chưa phù hợp, các giống ngô hiện có chưa thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất của bà con nông dân. Từ những nguyên nhân, hạn chế trên ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và năng suất của ngô, dẫn đến sản xuất ngô chưa đáp ứng được nhu cầu và khai thác tối đa tiềm năng của huyện.
Vì vậy, việc nghiên cứu lựa chọn giống ngô lai có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, thích ứng với điều kiện địa phương là rất cần thiết và cấp bách. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đánh giá một số tổ hợp ngô lai vụ xuân hè 2014 tại huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu”. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Lựa chọn được 1 - 2 tổ hợp ngô lai có thời gian sinh trưởng trung bình, phù hợp với điều kiện sinh thái của huyện Tam Đường để giới thiệu cho sản xuất.
Yêu cầu - Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm trong vụ Xuân - Hè tại huyện Tam Đường - Đánh giá một số đặc điểm hình thái, sinh lý của các tổ hợp ngô thí nghiệm. - Theo dõi tình hình sâu bệnh hại và khả năng chống đổ - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất n 4 - Giúp sinh viên biết bố trí một thí nghiệm so sánh giống, phương pháp đo đếm, thu thập, phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học - Kết quả nghiên cứu là cơ sở cho các nghiên cứu thực tế chọn tạo giống ngô cho Lai Châu 1.
Ý nghĩa thực tiễn - Giúp sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thức tế sản xuất - Giúp sinh viên biết bố trí một thí nghiệm so sánh giống, phương pháp đo đếm, thu thập, phân tích số liệu và viết báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu là cơ sở trong chọn tạo giống ngô tỉnh Lai Châu. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong những năm gần đây sản xuất ngô ở Việt Nam tăng nhanh nhờ sự thúc đẩy của ngành chăn nuôi và công nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó là sự phát triển ứng dụng khoa học trong việc lai tạo các giống ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt và đưa ngô lai vào trồng trên diện rộng. Lai Châu là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển sản xuất ngô, tuy nhiên năng suất bình quân lại đạt thấp hơn so với năng suất trung bình của cả nước. Hiện nay trong tỉnh một số nơi còn sử dụng giống địa phương và giống thụ phấn tự do. Các giống ngô lai được trồng chủ yếu trong tỉnh có nguồn gốc từ các công ty nước ngoài như Mosanto, Syngenta, Bioseed,… nên khả năng thích ứng của các giống ở mỗi vùng sinh thái còn nhiều hạn chế.
Vì vậy để phát huy được các đặc tính tốt của giống mới và tránh những rủi ro do giống không thích ứng với điều kiện sinh thái tại cơ sở sản xuất, trước khi đưa các giống ngô lai mới vào sản xuất đại trà tại một vùng nào đó, nhất thiết phải tiến hành đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và tính thích ứng với điều kiện sinh thái của vùng đó. Vì vậy, khảo nghiệm là một trong những khâu rất quan trọng trong công tác giống. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Hiện nay ngô là cây lương thực đứng thứ 3 trên thế giới sau lúa mì và lúa nước với diện tích khoảng 184,19 triệu ha, sản lượng khoảng 1016,74 triệu tấn (năm 2013).
Trong những năm gần đây nhờ vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất đã làm n 6 tăng năng suất và sản lượng ngô. Hiện nay trên thế giới có khoảng 140 nước trồng ngô trong đó có 38 nước là các nước phát triển còn lại là các nước phát đang triển (Báo cáo tổng kết 29 của ISAAA) [1]. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới được trình bày ở bảng 2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2009 - 2013 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2009 158,74 51,67 820,20 2010 164,03 51,90 851,27 2011 172,26 51,54 887,85 2012 178,55 48,88 872,79 2013 184,19 55,20 1016,74 (Nguồn:FAOSTAT,4/2015)[15] Số liệu Bảng 2.1 cho thấy sản xuất ngô của thế giới trong những năm gần đây tăng đáng kể tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng.
Diện tích trồng ngô từ 158,74 triệu ha (năm 2009 ) đến 184,19 triệu ha (năm 2013). Năng suất tăng không đáng kể từ 51,67 tạ/ha (năm 2009) đến 55,2 tạ/ha (2013). Do diện tích tăng cho nên sản lượng vẫn có xu hướng tăng qua các năm. Có được kết quả này, trước hết là nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác.
Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam Ở Việt Nam, cây ngô được trồng cách đây khoảng 300 năm và trồng trên những điều kiện sinh thái khác nhau của cả nước. Là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa, là cây trồng chính để phát triển ngành chăn nuôi. Năng suất ngô ở nước ta trước đây rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do n 7 sử dụng giống ngô địa phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Sản xuất ngô ở Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm và đến nay đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Tình hình sản xuất ngô Việt Nam trong 5 năm gần đây được trình bày ở bảng 2.