CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ PIN KIM LOẠI - KHÍ 1. Các khái niệm cơ bản về pin Pin là một thiết bị chuyển hóa trực tiếp năng lượng hóa học chứa trong các vật liệu hoạt động của nó thành năng lượng điện bằng phản ứng oxy hóa - khử. Pin là một thiết bị lưu trữ năng lượng dưới dạng hóa năng. Pin có thể gồm một hoặc nhiều tế bào điện hóa được nối với nhau theo một sự sắp xếp nhất định để tạo ra thế và dòng hoạt động nhất định.
Pin được phân ra thành hai loại: pin sơ cấp và pin thứ cấp. Pin sơ cấp là loại pin không sạc (nạp) lại được, được thiết kế để dùng 1 lần. Pin thứ cấp là loại pin sạc lại được và được thiết kế để sạc lại được nhiều lần. Cả hai loại pin này đều sản xuất theo cùng một cách giống nhau: thông qua một phản ứng điện hóa có sự tham gia của cực dương, cực âm và chất điện phân.
Trong loại pin có thể sạc được (pin thứ cấp), phản ứng hóa học xảy ra ở các điện cực có thể đảo ngược. Mỗi loại pin đều có những ưu điểm riêng và nhiều khi không thể sử dụng thay thế cho nhau. Việc lựa chọn pin phụ thuộc rất nhiều vào ứng dụng của thiết bị điện tử. Công nghệ chế tạo pin đã đạt được nhiều thành tựu kể từ những ngày đầu tiên xuất hiện pin Volta.
Những phát triển này phản ánh rõ rệt nhất sự phát triển vượt bậc của thiết bị điện xách tay, xe máy, ô tô, máy bay, tàu thuyền, …. Cấu tạo cơ bản của Pin được thể hiện trên Hình 1.1 bao gồm hai điện cực, vật liệu phân cách hai điện cực, dung dịch điện ly, vỏ và các điện cực đầu ra. Ba bộ phận chính của pin gồm: A nốt (Anode) - điện cực âm, ca tốt (cathode) – điện cực dương và chất điện ly. A nốt hoặc điện cực âm hay còn gọi là điện cực khử hoặc điện cực nhiên liệu là điện cực cung cấp điện tử (electron) cho mạch ngoài và bị oxy hóa trong quá trình phản ứng điện hóa.
Ca tốt hoặc điện cực dương- hay còn gọi là điện cực oxy hóa- là điện cực nhận điện tử (electron) từ mạch ngoài và bị khử trong quá trình phản ứng điện hóa. Sơ đồ mô tả cấu tạo của pin Chất điện ly hay chất dẫn ion: cung cấp môi trường truyền điện tích (như là ion) bên trong tế bào điện hóa giữa hai điện cực a nốt và ca tốt. Chất điện ly thường là chất lỏng như nước hoặc các dung môi khác có hòa tan các muối, axit hoặc kiềm để dẫn ion. Một số pin sử dụng chất điện ly ở thể rắn, chúng dẫn ion ở nhiệt độ hoạt động của pin.
Việc lựa chọn các vật liệu cho điện cực hay chất điện ly trong pin thực tế cần thỏa mãn các yêu cầu sau: - Vật liệu điện cực âm (a nốt): là một chất khử mạnh, đạt hiệu suất cao (Ah/g), tính dẫn điện tốt, ổn định, dễ chế tạo và chi phí thấp [48]. - Vật liệu ca tốt (điện cực dương): là một chất oxy hóa mạnh, ổn định khi tiếp xúc với chất điện ly và có điện áp làm việc thấp [35,48]. Các vật liệu ca tốt thông thường là oxit kim loại, ngoài ra còn có oxy, các halogen, lưu huỳnh… được sử dụng cho các loại pin đặc biệt. - Chất điện ly phải có độ dẫn ion tốt nhưng không dẫn điện, vì điều này có thể gây ra sự đoản mạch bên trong pin.
Các đặc tính quan trọng khác của chất điện ly là không phản ứng với các vật liệu điện cực, ít thay đổi tính chất khi thay đổi nhiệt độ, an toàn trong sử dụng và chi phí thấp [8,35,66]. Hầu hết các chất điện ly là dung 4 dịch nước, nhưng có những trường hợp chất điện ly không chứa nước. Ví dụ pin có a nốt là Lithium thì chất điện ly không chứa nước được sử dụng để tránh phản ứng của Lithium. Để xác định hiệu suất của một pin điện hóa thì cả ba thành phần trên đều rất quan trọng.
A nốt thường được xác định là điện cực âm và ca tốt là điện cực dương của pin sạc lại. Các chỉ số hiệu suất của pin như mật độ năng lượng, mật độ công suất, thời gian sống được xác định bằng sự kết hợp các tính chất lý hoá của cả ba thành phần này. Sự tiến bộ gần đây trong công nghệ xe chạy điện đã đòi hỏi hệ pin có mật độ năng lượng cao hơn nhiều (so với ~ 240Wh/kg của các pin thương mại sẵn có trên thị trường), mật độ công suất cao hơn và tuổi thọ dài hơn [2,15,48,65]. Tổng quan về pin kim loại - khí Cấu tạo của pin kim loại-khí được thể hiện trên hình 1.
Nguyên lý hoạt động của nó như sau: Trong quá trình phóng, kim loại M bị oxy hoá ở điện cực âm tạo thành M(OH) n; tại điện cực dương, O2 từ ngoài không khí khuếch tán vào bề mặt điện cực do tác động của chất xúc tác bị khử thành OH −. Quá trình phản ứng như sau: M + nOH- M(OH) n + ne − (1) O2 + 2H 2O + 4e − 4OH− (2) Trong đó M là kim loại và n là số ôxi hóa của ion kim loại. Phản ứng điện hóa được đảo ngược lại trong quá trình nạp với quá trình khử kim loại tại cực âm và quá trình oxi hóa O 2 tại cực dương (cực khí) [14,31,50,65]. Phản ứng khử oxy diễn ra ở điện cực khí tương tự như phản ứng khử trong pin nhiên liệu hydro.1 thể hiện các thông số đặc trưng của một số pin kim loại-khí.
Cấu tạo của pin kim loại –khí Bảng 1. Số liệu so sánh công nghệ một số pin sạc lại [45,48,65,66] Mật độ năng Mật độ năng Điện Pin lượng thực tế lượng lý thuyết Phản ứng áp (V) (Ah / kg) (Wh/kg) Al-khí 2.71 300-500 2796 4Al + 3O 2 +6H2O 4Al(OH)3 Mg-khí 3.09 400-700 2840 Mg + ½ O2 + H 2O Mg(OH)2 Zn-khí 1.65 350-500 1086 Zn + ½ O2 ZnO Li-khí 2.96 1170 3463 2Li+O 2 Li2O2 Na-khí 2.27 - 1106 Na + O 2 NaO 2 Fe-khí 1.28 60-80 1200 Fe + O 2 + H 2O Fe(OH) 2 Pin Al- khí và pin Mg- khí có mật độ năng lượng lý thuyết cao, giá thành rẻ và điện áp làm việc cao. Tuy nhiên, các giá trị thực tế có thể đạt được của chúng thấp hơn nhiều do phản ứng ăn mòn cùng với khí hydro sinh ra. Hơn nữa, phản ứng hóa 6 học của vật liệu nhôm và magiê không thuận nghịch vì quá trình điện phân nhiệt động lực học của Al và Mg trong dung dịch điện ly chứa nước nên pin Mg-khí và pin Al-khí không sạc lại điện được [6,9,36,37,46,63].
Pin này thường được sử dụng trong các lĩnh vực quân sự. Pin Li-khí có mật độ năng lượng cao và có khả năng sạc lại được. Tuy nhiên, do pin Li-khí có một số hạn chế như tạo thành lớp hidroxit làm cản trở không cho các quá trình oxi hóa - khử diễn ra sâu hơn vào lớp bên trong của điện cực, cũng như xảy ra hiện tượng nhánh cây “Dendrite” trong các chu trình phóng-nạp (hình 1.3) làm các lớp ngăn giữa các điện cực bị thủng gây ra đoản mạch, dẫn đến tuổi thọ của pin không được cao [35,48,65,66]. Ngoài ra, giá thành cao cũng là một cản trở để pin Li-khí khó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực công nghiệp và đời sống [2,8,65,66].
Mô phỏng hiện tượng “dendrite” gây hỏng pin Pin kẽm-khí có điện áp lý thuyết là 1,65 V với mật độ năng lượng cao đạt 1350 Wh/kg [10-12,16,65,66]. Tuy nhiên, điện áp nạp của pin này lại lớn hơn nhiều so với điện áp phóng làm giảm hiệu suất của pin. Ví dụ, điện áp phóng của pin kẽm- khí nói chung khoảng từ 1,0 đến 1,3 V, trong khi điện áp nạp là khoảng 1,8 V hoặc cao hơn. Ngoài ra, hiện tượng nhánh cây “Dendrite” hình thành trong quá trình phóng-nạp giống như pin Li-khí (hình 1.3) cũng đã giới hạn tính ứng dụng rộng rãi của nó [1,7,30,38,56,61,62].
7 Một loại pin kim loại –khí khác cũng đang được quan tâm của các nhà nghiên cứu là pin Na-khí [45,52,64]. Nguyên tắc hoạt động của nó được thể hiện trên hình 1. Như trong bảng 1.1 mật độ năng lượng lý thuyết của pin Na -khí khá cao có thể đạt được 1600Wh. Trong quá trình phóng lớp oxit NaO 2 tạo thành sẽ bị tách thành Na và O2 giúp khắc phục được nhược điểm của pin Al-khí hay của Li- khí.
Tuy nhiên, dung lượng pin lại bị giảm sau vài chục chu kỳ phóng nạp và hiện nay các nhà nghiên cứu đang tìm các biện pháp cải thiện hiện tượng này [39,45,52,64]. Pin Na-khí Mặc dù pin sắt - khí (Fe-khí) có mật độ năng lượng thấp hơn so với các loại pin kim loại-khí khác nhưng chúng lại được quan tâm nghiên cứu rất nhiều do pin Fe - khí có một số ưu điểm vượt trội như thế mạch hở thấp, năng lượng riêng cũng như dung lượng riêng lý thuyết cao, thời gian sống dài, độ ổn định điện hoá cao, chi phí thấp và thân thiện với môi trường [14,35,49,65,66]. Các nghiên cứu gần đây đã có những kết quả khả quan trong việc nâng cao hiệu suất và mật độ năng lượng của pin sắt - khí [13,17-27,41,44]. Pin Fe-khí Đặc trưng của pin Fe-khí được thể hiện trên Bảng 1.
Đặc trưng của pin Fe-khí [57] Thế thông thường Năng lượng Công suất Thời gian Hiệu (V) riêng (Wh/kg) riêng(W/kg) sống, suất (%) Thế Thế 100% DOD mạch hở phóng 80 60 1000 1,2V 0,75V 98 - 195 181- 309 1000 68% [57] [57] [57] [57] Nguyên lý hoạt động của pin Fe-khí được thể hiện trên Hình 1. Nguyên lý hoạt động của pin Fe-khí Pin Fe-khí sẽ hoạt động theo nguyên tắc oxy hóa sắt. Pin có lỗ hở để không khí mang theo hơi nước và khí oxy vào phản ứng với cực âm làm từ sắt được nhúng trong hợp chất điện ly có gốc bazơ (base). Khi phản ứng oxy hóa xảy ra, pin Fe-khí sẽ tạo ra nguồn điện dồi dào, giúp tăng công suất hoạt động của thiết bị.
9 Phản ứng điện hóa của pin Fe-khí được thể hiện qua phương trình sau : phóng Fe + O2 + H2O Fe(OH) 2 (3) nạp Nạp Phóng Hình 1. Phản ứng điện hóa của Pin Fe–khí trong dung dịch kiềm [57] 1. Điện cực sắt Sắt là một kim loại có nhiều trong tự nhiên, chi phí sản xuất thấp, không độc hại. Điện cực sắt có lợi thế về môi trường hơn so với các vật liệu điện cực khác như cadmium, chì, kẽm.